TUYẾT NGA – MƯỜI THƯƠNG


PHAN CHÍ THẮNG

Nhà thơ Tuyết Nga

Nhà thơ Tuyết Nga

Tập thơ “Hạt dẻ thứ tư” chỉ có hai mươi chín bài, tôi có nó trong tay đã mấy lần hai mươi chín ngày mà hôm nay mới dám cầm bút viết về tập thơ xinh xắn nhẹ nhàng mà nặng trĩu suy tư này.

Định viết về thơ Tuyết Nga, không hiểu vì sao trong tôi vang lên làn điệu dân ca Huế, một trong số mấy bài “Mười thương” trong kho tàng dân ca Việt Nam.

LÝ MƯỜI THƯƠNG
(Dân ca Huế)
Một thương tóc xõa ngang vai,
Hai thương đi đứng, vẻ người đoan trang
Ba thương ăn nói có duyên,
Bốn thương mơ mộng mắt huyền thêm xinh
Năm thương dáng điệu thanh thanh
Sáu thương nón Huế nửa vành nên thơ,
Bảy thương những cuộc mong chờ
Tám thương thơ thẩn bên bờ Hương Giang,
Chín thương bến Ngự sang ngang
Mười thương tà aó dịu dàng gió bay

Một thương tóc xõa ngang vai

Tại sao tóc xoã ngang vai là cái phải thương đầu tiên? Vì sao tóc xoã ngang vai lại là tiêu chuẩn hàng đầu để được thương trong quan niệm của người xưa? Tôi không cắt nghĩa được điều này.

Lần đầu tiên gặp Tuyết Nga, tôi – một người ít quen biết các nhà thơ – được Hoàng Cát thì thầm: “Con bé này làm thơ hay, tính tình dễ thương”. Nguyễn Trọng Tạo nói ngắn gọn theo phong cách của anh, cấm cãi: “Tuyết Nga làm thơ giỏi lắm”. Thế mà tôi lại gặp một “cô bé” tóc xoã ngang vai, đôi mắt đẹp, dẫu rất buồn nhưng trong sáng, rất ít nói, cười và lắng nghe là chính. Sau tiệc rượu, Tuyết Nga, cô em út, lặng lẽ rửa hết một chồng bát đĩa nồi niêu, còn đám ông anh tiếp tục ngồi bàn chuyện thơ phú.

Nhìn bề ngoài, khó ai có thể nói Tuyết Nga là người viết những câu thơ với những biên độ lớn của tư duy và cảm xúc.

Một thời gian rất lâu tôi mới gặp lại Tuyết Nga, nàng thật thà nói ra ấn tượng tôi đã gây cho người mới gặp lần đầu: mặt khó đăm đăm!

Cái người mặt khó đăm đăm ấy đang viết về thơ và nhà thơ Tuyết Nga – người đàn bà tóc xoã ngang vai.

Hai thương thật là đoan trang

Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã viết “Bạn văn 18″ rất hay, nói rõ về cô bạn văn – em gái đoan trang Tuyết Nga. Ta rất khó tìm ra những câu thơ, bài thơ Tuyết Nga viết về sự đoan trang. Người đoan trang đâu có nhu cầu khẳng định sự đoan trang của mình?

Chất đoan trang trong thơ Tuyết Nga nằm ở sau những câu thơ, ở cách nhà thơ nữ nhìn nhận và tìm về tình yêu.

Tôi đã học con đò cách đi qua những năm tháng long đong học bến nước mùa sông khô cách nhận ra vóc dáng niềm chung thuỷ. Cọng cỏ cuối bãi bồi dạy tôi biết nhặt lên niềm hy vọng, biết nói thầm lời nói yêu anh. (Nếu những dòng sông chết)

Tôi có cảm giác Tuyết Nga không biết ghét ai bao giờ, có vẻ như nhà thơ tìm được một điểm có độ cao, từ đó chị chỉ nhìn thấy những hình khối lớn, bỏ qua những chi tiết vụn vặt của mỗi người, mỗi sự kiện.

Khi ai đó nhắc về một khuyết điểm, một hành vi chưa hay lắm của một người nào đó, Tuyết Nga thường thốt lên: “Thương anh ấy quá” hay “Thương con bé quá”. Chỉ thương cho người có lỗi, Tuyết Nga không biết giận. Trong thơ chị ta không tìm thấy chữ giận, không tìm thấy một chút xíu sự oán trách.

Ta chỉ thấy sự bao dung và tinh cảm chân thành. Với cái người đàn ông đã có ly cà phê uống cùng người khác, có lời hẹn cùng người khác, nhà thơ đã xếp tất cả vào ngày hôm qua, để rồi ghi nhận cái đáng nhớ nhất:

Còn mãi trên tay khói sương phù điêu mùa thu hoang lạnh
miền anh nhớ em.
(Sắp đặt)

Ba thương ăn nói có duyên

Trong đám đông, Tuyết Nga thường ít nói, chị là một chuyên gia cười trừ, nụ cười luôn rạng rỡ trên khuôn mặt đượm buồn. Chị thích lắng nghe, biết cách bí mật dẫn dắt câu chuyện. Nhưng khi đã nói, chị dùng từ chính xác, đi thẳng vào vấn đề, và lại… cười!

Cái duyên dáng trong thơ Tuyết Nga không nằm ở ngôn từ, vần điệu. Nó ở cách chị nhìn cuộc đời, nhìn vạn vật:

Nắng thia lia trên những vòm lộc biếc
Hoa oải hương dịu dàng ngước lên cuối chiều…
(Hạt dẻ thứ tư)

Thơ Tuyết Nga không nũng nịu, hơn dỗi, yêu đương khốc liệt. Có thể nói trong số các nhà thơ nữ Việt nam hiện đại, Tuyết Nga ít làm thơ tình nhất, theo nghĩa thông thường của hai chữ thơ tình, song tình yêu không vắng mặt trong bất kỳ bài thơ nào của Hạt dẻ thứ tư, thậm chí nó là đề tài chủ đạo của tập thơ.

Bốn thương mơ mộng mắt huyền

Nhà thơ Tuyết Nga chưa bao giờ ngừng mơ mộng. Ngoài đời, cặp mắt chị đúng là ảo huyền mơ mộng. Hình như mơ mộng là nét xuyên suốt thơ Tuyết Nga:

Sau chập chờn những giấc mơ….
Có còn cho em hạt dẻ thứ tư?
(Hạt dẻ thứ tư)

Trong bài Quê chồng, Tuyết Nga đã có một giấc mơ kỳ lạ, mơ giữa ban ngày, mơ điều không thể có được nữa: mơ về người chồng

anh đã người nghìn năm nữa (Như đá)

Một thứ mơ mộng giai dẳng và mãnh liệt:

Đưa em về mà anh đi đâu?
ngơ ngác từng lối cỏ
dắt con lần về ngõ
sà vào tiếng của mẹ già
(Quê chồng)

Nhân vật người chồng ẩn sau bài thơ. Nhà thơ đang kể chuyện, đang nói với chồng đã khuất chuyện quê chuyện nhà, chuyện mẹ chuyện chị… Đưa em về mà anh đi đâu? Câu hỏi nhói lòng người đọc, nó cho ta cảm nhận được cái mộng mơ siêu thực mà rất thực của Tuyết Nga.

Tuyết Nga cũng mơ mộng về một người đàn ông – hình tượng nào đó:

Anh đến từ xa thẳm
một mùa ta đã quên cúc bất tử ven đường
một vùng sóng không reo không gầm gào
biển đứng…
(Hơi ấm)

Mơ về một hơi ấm. Niềm mơ của bất kỳ một người đàn bà nào.

Năm thương dáng điệu thanh thanh

Tuyết Nga làm thơ không giống như người đầu bếp dọn ra những món ăn ngon, bắt mắt bắt mũi, mới nhìn đã thấy thích.

Tuyết Nga không có (theo tôi) những bài thơ mà mới đọc lần đầu người ta đã muốn học thuộc lòng. Thơ Tuyết Nga là loại thơ phải đọc đi đọc lại nhiều lần, mỗi lần ta lại tìm thấy thêm một cái gì đó, như phải cố gắng bóc dần nhiều lớp vỏ bọc để được chiêm ngưỡng một món quà quý giá ẩn sâu bên trong.

Có vẻ như bị khó chịu khi phải chọn từ theo vần, nhà thơ viết như thấy cần phải viết ra như thế, chứ không phải để chiều lòng người đọc. Lời bạt “9 mô-đun kiểu Điềm Phùng Thị, em phía ngoài không gian”cho ta thấy tác giả có ý thức về không gian Thơ – Hội hoạ – Điêu khắc của mình. Và cũng giải thích vì sao Tuyết Nga có nhiều bạn thân là các họa sỹ, nhà điêu khắc.

Những câu thơ không vần, chỉ cần hình ảnh và âm thanh:

Người đàn bà không có gương mặt
bóng to trùm hết đêm
cất tiếng gọi hoang dã
biến ta thành Lọ lem trốn dưới gầm bàn.
(Nước mắt Lọ Lem)

Bên cạnh

Khát vọng thiên di biệt xứ
mùa thu cầm tù đường chân trời

Những lối mòn tận lực
nhưng không thể, trong ú tim trên cánh đồng hoa vàng

Ai hát một điệu tình du mục
đâu đó

Tóc thề vừa buông lặng
hắt sáng lên chới với những đóa vàng
. (Ấn tượng Van Gogh)

Là một bức tranh nhiều hơn là một bài thơ?

Cái thanh thanh, cái thanh thoát trong thơ Tuyết Nga là ở chỗ nó luôn không đại ngôn, nhà thơ không gồng mình lên để gào thét về nỗi đau thân phận, nỗi đau đời người, nhất là đời một người thơ tài hoa luôn phải kèm theo cô đơn.

Sáu thương nón Huế nửa vành

Tôi thán phục hai chữ “nửa vành” của tác giả vô danh đã viết nên bài Lý mười thương này.
Sự không trọn vẹn, nỗi cô đơn, kiếp độc hành trong thơ Tuyết Nga khác hẳn sự cô đơn tuyệt vọng trong Hàn Mạc Tử, bậc thi nhân đàn anh mà chắc chắn Tuyết Nga rất ngưỡng mộ.

Nhà thơ cô đơn:

Không ai đưa về dưới mưa người đi con đường trắng xoá
có gì thừa trong lặng lẽ
phút ngày ngã xuống lênh đênh
(Trong mưa)

Vì cô đơn nên:

Tìm trong bóng mây tìm nơi sóng cây tóc xanh mơ ngủ
tìm trong lòng ai tìm nơi khói sương những lời đã ngỏ
mùa nồng nàn.
(Mùa nồng nàn)

Bài Mùa nồng nàn gợi nhớ ca từ và giai điệu nhạc Trịnh Công Sơn.
Rất nhiều khi nhà thơ thấy mình “Một mình ta rơi tự do“.

Bất lực. Chấp nhận số phận, tung những đồng xu cầu may (Đồng lucky) bởi ngày tự đắm rồi mình trơ cạn(Trên con đường mùa đông), nhà thơ vẫn… nhẫn nại gieo hy vọng trái mùa (Trên con đường mùa đông), dẫu biết Rồi đông cũng xanh rồi mây cũng xa rồi xuân cũng qua… (Mùa dỗ dành) nhưng cuối cùng nhà thơ vẫn thấy:
bên ngoài ô cửa sổ mắt lá rưng rưng
bên ngoài khung cửa sổ mặt trời vừa ngẩng lên

...
Kìa cỏ rất non… kìa biển rất trong…
(Tự khúc)

Đời vẫn xanh vời vợi. Trong biển cả cay đắng, trong nỗi cô đơn của người thường và con người nghệ thuật, Tuyết Nga vẫn thấy cuộc đời này là non và trong. Nếu Tuyết Nga dừng lại ở chỗ gặm nhắm, thậm chí kiêu hãnh về nỗi cô đơn của mình, ta đã không mừng đến vậy?

Bảy thương những cuộc mong chờ

Thơ Tuyết Nga là thơ của những cuộc mong chờ.

Như diều buông dây hư không biền biệt ta trôi tới nơi khói sương huyền mặc
ta lạc tận miền trăng nguyệt thực
lang lang thang lang lang

mang trong mình di chỉ của quê hương (Di chỉ)

Đã mang di chỉ của quê hương thì phải mang tiếp di chỉ đi tiếp?
Người lang thang đi tìm cái mà người đó chờ đợi. Mong đợi đến hoá đá như người đàn bà vọng phu, Tuyết Nga cũng Như đá, chỉ mới “như” thôi, may quá. Như đá bởi mong đợi thắt mình dấu trong ban mai từng ẩn ức cô tròn cuội sỏi… bốn mặt vô tri bốn mặt im lìm (Như đá)

Câu hỏi

Có còn cho em hạt dẻ thứ tư?

Là một ước nguyện, một mong chờ. Tôi hình dung chú sóc nhỏ với cặp mắt tròn xoe đang nhảy nhót trên cành, và cuối cùng có được hạt dẻ của mình, nó dùng hai chân trước cầm lên, sung sướng…

Hy vọng rồi thất vọng, nàng Lọ Lem của chúng ta có một lần duy nhất giận dỗi, nhưng là giận với Bụt với Tiên:

Đi đi…
cả Bụt
Cả Tiên
(Nước mắt Lọ lem)


không tin đàn chim có thể nhặt cho cho ta những ngày hạnh phúc. (Nước mắt Lọ lem)

Nhưng nhà thơ vẫn lại tiếp tục mong ước:

Đừng nói với tôi rằng dòng sông đã chết! (Nếu những dòng sông chết!)

Tám thương thơ thẩn bên bờ Hương Giang

Trong tập “Hạt dẻ thứ tư”, Tuyết Nga chỉ hai lần nhắc đến sông. Một lần là nhắc đến giòng sông quê hương

Dốc tận đáy lòng mà ngày tới biển sông Lam lửng lơ khép buồm thiêm thiếp
di chỉ vào ta Nỗi Buồn
Tựa Nước
(Di chỉ)

và nguyên một bài Nếu những dòng sông chết.

Dòng sông là hình ảnh gắn liền với sự sống, sự sinh tồn. Nó còn là hình ảnh quê hương, tuổi ấu thơ… Nhiều nhà thơ, nhạc sỹ viết về dòng sông.

Tuyết Nga không viết về con sông cụ thể, con sông trong bài thơ này không có tên, nó là chính cuộc đời:

Thượng nguồn bỏ ngỏ hồn ai mới đong, mắt ai còn đang neo chiều sóng sánh, quá khứ lội sông tìm quanh câu hát… người vừa níu được bóng mình dạt trôi. Đừng nói với tôi rằng sông đang chết.

Mượn hình ảnh dòng sông để nói về giòng đời, để chiêm nghiệm cuộc sống.

Chín thương Bến Ngự sang ngang

Tất nhiên là Tuyết Nga không ở Huế, không đi đò sang Bến Ngự.

Cuộc sang ngang ở Tuyết Nga là một cuộc di chuyển trong thơ Việt nam. Khó có thể nói chị là người tiên phong mở đường, chỉ biết chị là người kiên trì đổi mới thơ.

Thơ nằm trong đền thờ thiêng liêng của Nghệ thuật, nơi Thơ giao hòa cùng Nhạc và Hoạ.

Thơ là Triết lý được trình bày bằng ngôn ngữ thơ.

Có thể nói rằng, khi làm thơ, Tuyết Nga suy nghĩ bằng con tim và cảm xúc bằng trí tuệ:

Ngôi nhà miền đẹp trời một ngày
có Người
nồng nàn thơm men chai rượu vừa bật nắp
nước và lửa và mèo con ríu rít
tiếng nói cười mùi oải hương chen nhau
nhưng… trái tim đang đập ở đâu?
(Hạt dẻ thứ tư)

Nhà thơ với thân mình mảnh dẻ, nụ cười dịu dàng biết giật mình khi Rừng U Minh cháy:

Cổ thụ một ngày chết như trẻ thơ…

Nhà thơ không chỉ bó mình trong tâm cảm riêng của một con người, nhà thơ giải thoát được mình khi cảm nhận, chia sẽ được những nỗi đau nhân quần.

Mười thương tà aó dịu dàng gió bay

Các cụ tài thật, khéo léo thật. Cái thương đầu tiên là thương tóc xoã ngang vai, cái thương cuối cùng là tà áo gió bay – những thứ hoàn toàn chỉ là bề ngoài gắn bó lỏng lẻo với mỹ nhân. Đó cũng là một cách nói.

Thơ Tuyết Nga đầy triết lý, nhiều suy tư. Song mọi triết lý suy tư ấy, mọi câu thơ thoạt nhìn tưởng như là trúc trắc ấy, là của một người phụ nữ dịu dàng đôn hậu.

Ít ai như Tuyết Nga rất thèm làm cơm mời các anh cách chị đến nhà, ít ai như Tuyết Nga dám giận một người bạn khác khi người bạn này chậm đưa Tuyết Nga đến thăm một ông bạn kia đang rất cần đến thăm.

Viết về thơ Tuyết Nga là một thách thức rất lớn. Tôi viết những gì tôi cảm, tôi nhận được từ Hạt dẻ thứ tư. Có thể đó chỉ là một phần hiểu và biết, từ một góc nhìn còn hẹp. Cái đáng nói của thơ Tuyết Nga là ở chỗ đó: không ai dám nhận là mình đã hiểu được khoảng 60% thơ của chị!

Cuối cùng, để nói về tập thơ Hạt dẻ thứ tư của nhà thơ Tuyết Nga, tôi muốn dừng lại ở bài Bup bê Baby, mặc dù khó chọn bài nào là bài hay nhất trong cả tập thơ vì bài nào cũng đều là “hàng khủng”.

Bé Búp bê xinh đẹp, chỉ là một món đồ chơi mỹ miều, rực rỡ phấn son, được nhiều người nâng niu chiều chuộng vì nó có:
cái nhìn thuỷ tinh dẫn lối nụ cười xoã tuổi hai mươi em đi sóng sánh
thánh thót
những lời cài đặt trước.

Nhưng dù sao em vẫn không phải là con người như ta với những khổ đau, sướng vui:

Em chẳng thể nào ngồi xuống bên người sớt lại hoang vu dỗ yên cay đắng
em chả thể như ta mặc mùa hoá đá
Trái tim như bếp lửa cuối ngày.

Lập luận như thế là đủ cho người đọc phân biệt được cái chân với cái giả.

Nhưng nếu chỉ có thế thì đã không phải là Tuyết Nga. Nhà thơ nữ của chúng ta đã sẵn sàng chia sẻ niềm vui sống với bé Búp bê:
Ta lặng lẽ về ngồi với cỏ cây chia thêm cho em những ngày lắng gió
và chính chị đã cảm ơn bé Búp bê:

không em
làm sao ta hiểu hết
hạnh phúc ta da thịt của đời thường.

Ở khổ thơ cuối, bài thơ bùng lên ngọn lửa yêu thương nơi con tim khổ đau mà vẫn nhân hậu.

Xin cảm ơn nhà thơ, chúc nhà thơ còn tiếp tục sáng tạo và cống hiến cho thi ca Việt nam nhiều hơn nữa!

About these ads

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 299 other followers