MÓN ĂN XỨ NGHỆ


ĐẶNG NGỌC THĂNG
Cháo lươn Vinh

Cháo lươn Vinh

1- CHÁO LƯƠN

Ai về Xứ Nghệ mà không ăn được một tô cháo lươn thì coi như chưa về. Chả thế mà mấy ông Tây, bà đầm đến đất Nghệ làm ăn, ban đầu còn ngại ngùng, lâu sau thì thành đệ tử các món lươn Xứ Nghệ, huống chi là người Việt.
Nào là cháo lươn, súp lươn, lươn xào dòn, lươn hầm chuối xanh, hầm cà pháo non… gia vị là ớt cay, lá lốt, nghệ tươi, bột tiêu… Lươn phải là con lươn tự nhiên của cánh đồng Xứ Nghệ, nó có cái bụng vàng óng, thân dài, thon nhỏ. Thiên hạ thêu dệt và đồn thổi rằng người Xứ Nghệ nuôi lươn bằng…củ nghệ(?) Thịt con lươn xứ này nó ngọt , nó thơm, nó bùi, nhất lại là rẻ và bổ dưỡng… ngon đến lịm ga!
   Bây giờ ở khắp nước, nhất là các thành phố, nhan nhản “Quán cháo lươn Xứ Nghệ”. Khách đông từ sáng tận khuya. Nhưng con lươn thì có lẽ chưa chắc đúng lươn đồng quê Nghệ. Nhưng hương vị Nghệ thì không thể nào sai được.
2- NỘM CỦ CHUỐI
 
   Một món uống chết rượu, rẻ như biếu không là nộm củ chuối. Củ cây chuối hột đang thì tơ, bằm thái thành sợi, ngâm nước muối nhạt, trùng qua nước sôi, trộn với lạc rang miền Diễn Châu, rắc nhúm lá chanh thái nhỏ thành sợi, một nhúm khuyếc (tép nhỏ)biển, thành món nộm. Ăn món này phải kèm với bánh khô vừng(bánh đa mè), mà phải bánh đa Đô Lương, Yên Thành dày vừng mới đã. Chừng nửa củ chuối, mấy cái bánh khô, độ bốn ông nhâm nhi hết dăm ba lít rượu.
   Vì vậy mà có chuyện rằng: Nếu không tin thì hỏi nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo cùng nhà phê bình Văn học Phạm Xuân Nguyên là biết. Hai ông ấy về quê, gặp ông nhà thơ Thạch Quỳ, cùng ông Trung họa sỹ, bốn ông uống thông tầm 27 tiếng trên một ngày (!?) Rông rài là thế, “điêu” đến là thế, mượn danh là thế, nhưng nó là dấu ấn đến lãng mạn một đặc sản Xứ Nghệ, đâu phải chuyện bỡn! Tôi đem chuyện này, hỏi Nhà Thơ Thạch Quỳ, ông cười khùng khục mà không giải thích là có hay không! Còn bác Tạo thì nói, chỉ có 25 tiếng thôi, làm chi có 27(!?). Tuy hơi bị “oan” cho các bác, nhưng mà chẳng “uổng” tí nào.
3- MÓN LÒNG THUÔN
 
   Lại nói về món “lòng thuôn”. Tất tần tật lòng lợn đều có thề nấu thành món lòng thuôn được. Lòng lợn phải còn tươi, trộn đủ gia vị, đem xào lên với hành và nước mắm ngon, chế nước thành món. Nhưng cái ngon nhất là phần “khấu đầu nhồi tiết”. Món này nhắm rượu được, nhất là ăn với bánh mướt (không phải bánh tráng, bánh ướt đâu nhé) của Yên Thành và rau sống bằng thân cây non chuối hột đã nói, thì ngon đến nhớ đời. Ở đất Nghệ vài năm nay, mọc lên nhiều quán bán món này, nhất là ờ Vinh.
   Bánh mướt xứ Yên Thành có cái lạ là vừa dẻo, vừa giòn, vừa thơm, vưa ngậy. Họ nói, đồng chiêm trũng nơi đây có một thứ lúa gạo đặc biệt như thế, không nơi nào có. Vì vậy, về chốn này ăn phở, không bao giờ sợ bỏ hàn the độc hại!
4- MÓN THỊT CHÓ KIỂU NGHỆ
 
 
   Thôi thì cũng nói luôn về món thịt chó kiểu đất Nghệ. Có nhiều người khen rằng, về Nghệ ăn món thịt chó sao mà thơm, ngon và đậm đà đến thế. Đơn giản thôi, bí quyết ấy là chỉ nấu thịt bằng một nồi, úp lá chối, đậy vung thật kín, trừ món nướng. Nhựa mận, dưới cùng, giữa là món hấp, trên cùng là món dồi. “Thằng dưới, thằng trên” cứ bổ sung cho nhau về hương vị qua quá trình đối lưu nhiệt và hơi nước cùng gia vị trong lòng cái nồi ấy. Nhưng cái độc đáo, làm thịt chó ngon thơm dậy mùi, có lẽ là do mắm tôm nguyên chất của xứ này. Món dồi , dứt khoát là phải có đọt ổi, đậu xanh rang và lá mơ trơn, thì mới tuyệt chiêu. Nhớ làm tẩn mẩn, chớ ẩu mà phí, mất gốc!
5- MÓN NHÚT THANH CHƯƠNG
 
 
   Người đời cứ sẵn miệng liền câu nói “nhút Thanh Chương, Tương Nam Đàn” nhưng chưa hẳn đã hiểu thông tỏ.
   Muốn có một vại nhút ngon, người ta phải chọn quả mít đang thì bánh dì,  hình dáng tròn lẵn, dài , thon đều. Còn nghe nói phải hái khi mặt trời chưa mọc cơ đấy, mà người hái phải là phụ nữ tịnh vắng buồng the đến ba tháng và chín ngày!?  Rồi lá gừng phải là đàn ông hái rồi nửa đêm lo lỏm “lén bà” lẳng lặng bỏ vào vại nhút ấy, nó mới thơm và nồng. Nhút thật có duyên và thanh khiết là thế! Có vậy, nhút mới mặn bùi và ngầy ngậy! Có người thì bảo, nhút Thanh Chương là nguồn gốc của Kim Chi Triều tiên nữa cơ đấy! Câu chuyện hư cấu ly kỳ vậy, nhưng mới thấu hiểu sự cầu kỳ, chăm chút và làm món ăn phải có cái tâm cùng sự hiểu biết truyền thống. Chuyện dân dã mà thật đáng trân trọng!
    Nhút làm kiểu này, khi vớt ra đĩa, trắng phau. Khi ăn nhút, phải có nhúm hạt lạc rang vừa chín tới, bóc sạch vỏ lụa, giã bể thành miểng, nhưng phải là lạc Thanh Chương, nhút nó mới “chịu nghe theo”. “rừng nào cọp nấy (ấy)” là thế. Nhút phải ăn với chẹo mới ngon. Chỉ người biết làm nhút mới biết làm món chẹo đặc biệt này được. Điều này là bí mật nhà nghề, như thể độc quyền sáng chế, nên không dám tiết lộ(?)
6- MÓN BÚN – GIÁ – CÁ – RUỐC
   Ở xứ Nam Bộ, con cá trích, cá thửng (cá mối)lâu nay người ta không màng tới. Nhưng từ ngày dân Nghệ vào cư ngụ đến nay, nó lại thành  món ngon hấp dẫn. Khắp các chợ Sài gòn đều có quán cá trích, cá thửng nướng. Cá đó đem nướng than củi đến độ se thơm, bén cháy một chút, rồi kho đến ải với muối hạt và mật mía, gia vị là vỏ quýt phơi khô, đảm bảo “thơm từ cá, ngọt từ môi”. Món này, người bệnh liệt giường cũng phải ăn được vài bát cơm là ít!
   Cá trích nướng chín, ăn với bún và mắm tôm, kèm giá đậu, đố ai quên được. Món “bún, giá, cá ruốc” là một đặc sản danh tiếng của “Chợ Nồi” xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu. Món bún lá, kết hình tròn, dẹt như lòng cái đĩa nhỏ, ngon tuyệt chiêu là chốn này. Bún làm hoàn toàn bằng thủ công , tỉ mẫn, không hóa chất, không máy móc, nó là một nghề gia truyền, í ai biết được. Bún Làng Quỳnh thơm chua, dẻo, giòn, ăn no lúc nào chẳng để ý được. Nếu có về, nhớ ăn một lần, khi chết đỡ thiệt! Chuyện rằng: Cụ bà Châu Thị Ba, quê ở Quảng Nam-phu nhân Tri huyện Nguyễn Thụ đã đưa nghề bún lá về làng Quỳnh Đôi cách đây đã trên 130 năm, và tồn tại và phát triển đến ngày nay không mai một. Thế mới biết bún Làng Quỳnh nó sạch và ngon đến cỡ nào.
      Kể món ăn Xứ nghệ có mà hết thời này sang thời khác, chuyện nọ xỏ chuyện kia, sợ miếng của làng bắt quàng sang món xứ…Nó nhiều vô kể và độc đáo đến ngạc nhiên. Kể nhiều, cứ thòm thèm, khó chịu lắm, khó chịu đến rỏ dãi!
About these ads

3 phản hồi

  1. Bún-Giá-Cá-Ruốc…Tuyệt!

  2. Tôi cũng là người xứ Nghệ.
    Món nhút được bác chụp ảnh và đăng trong bài đúng là nhút Thanh Chương, quê ngoại tôi, một vùng mít nhiều cực kỳ, nhiều nhà thậm chí có lúc mít chín người ta không ăn múi mà chỉ lấy hạt để ăn. ! Ở các vùng khác của xứ Nghệ, nhút làm bằng nhiều loại rau khác như hoa chuối, măng, rau muống…Với tôi nhút đã từng là món ăn hàng ngày trong những năm tháng đói nghèo ở quê. Thời đó, nhà nào cũng đều có một vại nhút. Thức ăn hàng ngày ngoài cơm ra (thời đó có cơm đủ ăn cũng là may mắn lắm rồi) thường chỉ có nhút và rau. Bây giờ nhiều lúc tôi ước ao thỉnh thoảng ước ao được ăn nhút của mẹ tôi làm. Đôi khi người ở quê gửi ra một vài lọ nhút, nhưng đó là nhút người ta làm để bán, khác lắm với nhút của mẹ tôi ngày xưa. Dù vậy, con trai tôi rất khoái ăn bánh mì với món nhút ở quê gửi ra được vợ tôi chế biến bằng cách “xào”. Nhưng cũng phải nói thêm, món nhút có mùi đặc trưng của nó. Không phải là người xứ Nghệ thì không phải ai cũng “chịu” được mùi đó khi lần đầu thưởng thức.
    Mùa đông này đọc bài của bác tôi lại nhớ đến mùi thơm của món nhút xào bốc lên thoang thoảng cùng với làn khói lam chiều từ những mài nhà tranh trong những chiều mưa phùn của tuổi thơ ở quê.

  3. Bài hay quá.
    Tôi ước có dịp về xứ Nghệ của anh Đặng Ngọc Thăng, món ăn ngon, con người đậm đà tình nghĩa.
    Nguyễn Đức Tùng

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 304 other followers