NHÂN ĐỌC BÊN THẮNG CUỘC CỦA OSIN HUY ĐỨC (I)


ANH GAU PHAM (FB)

Ngày hôm qua tôi đã đọc xong bản điện tử của quyển một (Giải Phóng) của bộ sách mới của anh Huy Đức với tựa đề Bên Thắng Cuộc gần như liên tục trong vòng 9 tiếng. Chủ đề của cuốn sách, những vấn đề mà nó xem xét cũng là những điều làm tôi suy nghĩ vương vấn trong đầu nhiều năm nay. 

Nếu chúng ta không thể
Làm chiếc bút chì màu
Để vẽ nên hạnh phúc
Cho những người buồn đau.

Thì chí ít, hãy cố
Làm chiếc tẩy, hàng ngày
Giúp xóa sạch khỏi họ
Những nỗi buồn đau này.

(Thơ Thái Bá Tân)

Là một nhà báo năng động và thành công ở Sài Gòn trong giai đoạn Việt Nam đổi mới, anh Huy Đức có lợi thế gần như không ai có được ở khả năng tiếp cận với các cá nhân đã từng hoặc vẫn đang là giới chức cao cấp hàng đầu của CHXHCN Việt Nam và các nhân sỹ, trí thức và cựu quan chức của Việt Nam Cộng Hòa. Khả năng ngoại ngữ và góc nhìn hướng ngoại của anh cũng giúp anh gặp gỡ với các nhân vật Mỹ có liên quan tới giai đoạn lịch sử thời chiến tranh Việt Nam. Nhờ những lợi thế này anh Huy Đức đã gom góp được một nguồn sử liệu khổng lồ từ các trao đổi cá nhân thu thập từ chính nhân vật lịch sử. Các thông tin nguồn chính này kết hợp với các nguồn tham khảo đồ sộ mà tác giả sử dụng tạo dựng cho cuốn sách này vị thế của một tác phẩm kinh điển tức thì về lịch sử Việt Nam. Tôi tin rằng hàng chục năm nữa người ta vẫn sẽ còn tiếp tục trích dẫn từ cuốn sách này.

Anh Huy Đức không được đào tạo về những phương pháp hiện đại nghiên cứu và tái dựng lịch sử. Anh cũng không được đào tạo bài bản và chuyên nghiệp về báo chí mà đã tự học lên từ thực tế công việc. Biết vậy tôi càng cảm phục hơn tinh thần và nỗ lực làm việc nghiêm túc mà tác giả đã đổ vào tác phẩm đồ sộ này. Tôi dễ dàng cảm nhận thấy từ giọng văn bình thản, lối trình bày thông tin, dữ liệu tương đối cân bằng; cách tác giả không sa đà vào phân tích; cách đặt tên các tựa đề và đề mục là tác giả đã bỏ công nghiên cứu cấu trúc và phương pháp viết sử tương đối khoa học của các tác giả Mỹ viết sử Việt Nam như Stanley Karnow (Vietnam: A History), William Duiker (Ho Chi Minh: A Life), Sophie Quinn-Judge (Ho Chi Minh – The missing years). Tôi tin cuốn sách này đã xác lập chắc chắn vị trí của anh Huy Đức trong số những người viết sử Việt Nam hàng đầu

Tôi muốn nhấn mạnh nhận xét về cách tác giả không sa đà vào phân tích. Điểm này đặc biệt ở chỗ nó khác hoàn toàn văn phong báo chí đã trở nên quen thuộc của chính tác giả. Giống phần lớn người viết Việt Nam học và làm nghề viết trong môi trường không đề cao kỹ năng viết, nhà báo Huy Đức có xu hướng mắc phải những lỗi lập luận đơn giản mà một nhà báo phương Tây chịu sự kiểm tra kỹ càng của công chúng ít mắc. Tôi sơ cử ra hai lỗi đã thấy ở anh Huy Đức: một là trích dẫn một nguồn uy tín và coi đó nghiễm nhiên là sự thật và hai là xuất phát từ định kiến có sẵn khai triển lập luận. Tôi cảm thấy vui mừng khi cảm nhận thấy anh Huy Đức đã áp dụng một cách thức trình bày và phân tích thông tin dữ liệu cân bằng, khách quan và bình thản. Cách tác giả đưa ra một lượng thông tin ngồn ngộn rồi để độc giả tự nghiền ngẫm và quyết định cách phân tích và cảm nhận theo tôi là cách tốt nhất khi viết về một vấn đề vẫn còn gây tranh cãi, chia rẽ, xung đột, và kể cả thù hằn là vấn đề chiến tranh Việt Nam.

Tuy vậy, sẽ là nhầm lẫn nếu suy luận từ sự thiếu vắng phân tích của chính tác giả trong tác phẩm để cho rằng tác giả không có thái độ cụ thể về chủ đề của tác phẩm. Thái độ của tác giả là gì trong trường hợp này là một thứ ý tại ngôn ngoại. Trong hoàn cảnh hiện nay ở Việt Nam, gần như tất cả các vấn đề mà tác giả đề cập đến (cải cách ruộng đất, học tập cải tạo, cải tạo tư sản, vượt biên có bảo lãnh) vẫn còn là những vấn đề cấm kỵ bị tránh né (dù nhiều điều đã là các bí mật mở). Việc tác giả tấn công trực diện từng vấn đề, nêu đích danh tên từng nhân vật, nhiều người vẫn còn sống còn quyền sinh quyền sát thể hiện một thái độ dũng cảm đáng kính trọng của tác giả. Sự dũng cảm này còn được thể hiện trong việc tác giả lựa chọn tự xuất bản sách qua kênh cá nhân như cách tuyên bố về sự độc lập, sự tự chịu trách nhiệm. Đây cũng là một sự cẩn trọng cần thiết đối với một người viết độc lập để giữ được uy tín với công chúng nhằm chống lại những buộc tội vô cớ chắc chắn sẽ đến về việc tác giả bị mua chuộc bởi các thế lực. Thái độ của tác giả trong trường hợp này có thể được so sánh như ý đồ của một nhiếp ảnh gia trưng bày ra một hình ảnh tĩnh của thực tại. Mỗi góc nhìn, mỗi chi tiết được nhấn mạnh, dưới ánh sáng nào, mầu sắc ra sao vv đều được tính toán kỹ và có lý do. Mỗi người chắc sẽ có cảm nhận khác nhau về thái độ của tác giả. Ấn tượng của tôi là về một thái độ tôn trọng sự thật rất đáng cảm phục và học tập.

Khi nhắc đến thái độ tôn trọng sự thật rất “đáng học tập” của tác giả, tôi đã để lòi ra một cái đuôi về một xuất thân giống với tác giả là cùng lớn lên dưới mái trường xã hội chủ nghĩa. “Đáng học tập” hay “đáng biểu dương” hay “nêu gương” là những lời lẽ định hình chỉ trong môi trường thi đua phấn đấu của trường học xã hội chủ nghĩa. Sự tương đồng này dẫn dắt tôi đến một điểm khác đáng chú ý là việc tác giả là một trong số rất ít những người từ “bên thắng cuộc” đưa ra một góc nhìn khác về chiến tranh. Thời nay là lúc lý tưởng cách mạng trong xã hội Việt Nam ta đã nhạt nhòa và người ta không phải quá o ép lời ăn tiếng nói vì thế từ người bình dân tới cán bộ cao cấp ai ai cũng có thể nói những lời xét lại về quá khứ mà không sợ bị trừng phạt.  Tuy thế việc viết ra một cách có hệ thống các quan điểm xét lại này vẫn là điều không được chấp nhận. Một vài người viết như Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh, Dương Thu Hương với các suy tư về ngày 30/4/1975 đã gặp rắc rối vì các quan điểm xét lại. Để Huy Đức – một người lớn lên trong xã hội ưu việt miền Bắc, từ nhân dân cần lao mà ra, được giáo dục từ trong trứng nước về tư tưởng anh hùng xã hội chủ nghĩa và tính tất thắng của phe ta, lại từng là lính chiến đấu phụng sự sự nghiệp cách mạng cao đẹp – viết được một tác phẩm xét lại thế này cần một nỗ lực lớn hơn nhiều lần so với một học giả nước ngoài hay “phe họ”. Để một cá nhân đã được lập trình cho quen với vị thế tiện lợi của người chiến thắng, người đúng, phe chính nghĩa phải suy nghĩ lại, phải phân tích duy lý về vị thế đó và nếu thấy cần thì rời bỏ nó đòi hỏi những hoàn cảnh, hiểu biết, tính cách cá nhân nhất định. Một yếu tố quan trọng cần có nhưng khó có ở miền Bắc là óc tư duy phê bình. Những người như anh Huy Đức, như tôi, như thế hệ của chúng tôi lớn lên chỉ được tiếp xúc với thông tin một chiều và sự thật một chiều. Sự thật được đóng gói sẵn, cần là có, rất tiện lợi và ngon lành, việc gì mà phải đi tìm ở đâu nữa? Trong cái hang của Plato được giữ đóng và kín này thì lấy đâu ra hạt giống cho những suy tư khác, cho sự nghi ngờ về việc có tồn tại một thế giới khác bên ngoài hang? Cái nỗ lực của con kén phải rùng mình chui ra khỏi cái vỏ kín tối thực sự là đau đớn. Ngoài ra việc anh Huy Đức mới chỉ là cậu bé 13 tuổi khi kết thúc chiến tranh không có trải nghiệm trực tiếp trong cuộc chiến nhưng vẫn chuyển mình đủ để sau này trình bày gẫy gọn, súc tích, bình thản về những nỗi buồn chiến tranh là một tấm gương tôi thấy đáng học tập.

Trở lại câu hỏi về hạt giống nào của sự thật, trong hoàn cảnh như thế nào đã khởi động quá trình một người thắng cuộc bắt đầu nghi ngờ về vị thế siêu việt của mình. Tôi cho rằng hạt giống của sự thật thường đến trong hình hài của những mâu thuẫn. Suy nghĩ này làm tôi nhớ đến câu cách ngôn đại ý nếu cứ nói thật thì khỏi cần phải nhớ đã nói gì. Trong thực tế cuộc sống thì những thứ không phải là sự thật hoặc chỉ là sự thật một chiều – tôi định nghĩa là thứ sự thật quy ước cục bộ  – sẽ bị thách thức khi không gian quy ước cục bộ bị phá vỡ. Sẽ xuất hiện những bằng chứng về sự mâu thuẫn giữa những thứ không phải sự thật, sự thật cục bộ, quy ước với những sự thật toàn cục kiểm chứng được. Những bằng chứng mâu thuẫn sẽ khiến người ta xem xét lại hệ thống niềm tin sẵn có của người ta. Nhưng trên thực tế để đi từ chỗ bắt đầu xem xét tới chỗ có niềm tin mới là một quá trình rất dài lâu và khó khăn, càng khó hơn trong môi trường thiếu thông tin có sự kiểm soát, áp đặt tư tưởng.

Đối với anh Huy Đức, Dương Thu Hương và cả tôi những bằng chứng mâu thuẫn đầu tiên đến từ chính bên thua cuộc. Những gì chúng tôi được dạy về họ không giống những thứ chúng tôi quan sát được ở họ. Anh Huy Đức, trong tác phẩm này, vừa trực tiếp vừa định hướng, đã đưa ra một số lượng khổng lồ các bằng chứng loại này. Mỗi người đọc có thể tự suy ngẫm và so sánh với niềm tin riêng của mình. Sự thay đổi về niềm tin nếu có phải là một hành trình cá nhân.

Mười tám năm trước có lần tôi tranh luận mười mấy tiếng đồng hồ với một người bạn nước ngoài về vấn đề học tập cải tạo sau chiến tranh. Người bạn đó có một người bạn Việt Kiều ở Thụy sỹ tên là Loan; cha cô Loan đã đi học tập hơn 10 năm. Người bạn tôi nói rằng việc tập trung cải tạo giam giữ lâu dài như thế là không cần thiết và vô nhân đạo. Tôi, bên thắng cuộc, nói rằng người chiến thắng đã hy sinh quá nhiều để giành chiến thắng và có quyền bảo vệ chiến thắng đấy. Bảo vệ chiến thắng bằng cách cho đối phương học tập cải tạo là lựa chọn tử tế và nhân đạo hơn so với việc giết họ đi. Tôi cũng nói đám người vượt biên là đám ô nhục bỏ tổ quốc ra đi vì lý do kinh tế. Cuộc tranh luận bất phân thắng bại kết thúc bằng việc hai bên không ai chịu ai đều khóc. Sau khi lớn lên được tiếp xúc với nhiều nguồn thông tin và nhân vật lịch sử của cả hai bên, được đọc nhiều sách vở bằng ngoại ngữ, rồi được qua Mỹ học về hành chính và qua đó thu thập được những công cụ phân tích cơ sở, tôi đã dần dần tự luận ra được nhiều điều. Giờ đây nhiều năm sau tôi tự cảm thấy đã có những niềm tin khác cân bằng và ôn hòa hơn. Là người sinh ra sau chiến tranh, gia đình không mất ai trong chiến tranh, hiện không hoạt động chính trị hay tham gia đảng phái nào (tôi cũng chỉ có một đảng là đảng Việt Nam), dựa trên những hiểu biết tự thu thập và xử lý, với tuyên bố rằng không ai mua chuộc hay ép buộc tôi, tôi nói nhân danh cá nhân tôi rằng những gì đã xảy ra, đặc biệt trong thời hậu chiến, như anh Huy Đức đã kể ra rành mạch trong tác phẩm này của anh, quả thực là quá oan ức và đau khổ cho miền Nam. Vì điều đó nhân danh chỉ cá nhân tôi tôi muốn được xin lỗi.

Nguồn: https://www.facebook.com/notes/anh-gau-pham/nh%C3%A2n-%C4%91%E1%BB%8Dc-b%C3%AAn-th%E1%BA%AFng-cu%E1%BB%99c-c%E1%BB%A7a-osin-huy-%C4%91%E1%BB%A9c-i/10151264283141112

About these ads

11 phản hồi

  1. Huy Đức không có “chuyên môn” như Tư Mã Thiên. Nhưng, những điều mà Huy Đức làm được trong cuốn sách này thì… cả 3 đời nhà Tư Mã Thiên cũng không bao giờ làm được.

  2. Trên thì ông “hy vọng với cuốn sách này, Huy Đưc đã xác lập vị trí hàng đầu trong những người viết sử…”. rồi thì ông nhận định về sự thiếu vắng phân tích cuả tác giả(HĐ),không có thái độ cụ thể về chủ đề của tác phẩm, nhân đó ông đề nghĩ độc giả là hiểu cho là, HĐ viết với ý tại, ngôn ngoại!

    Viết sử mà bắt độc giả phải đọc “bên dưới những hàng chữ”…thì là sử gì?

    Vừa mới sơ cử ra hai lỗi, một là khi dẫn nguồn uy tín thì nghiễm nhiên coi đó là sự thực, hai là phát xuất từ định kiến có sẵn để khai triển lập luận…thì tiếp ngay đó ông vui mừng cảm thấy HĐ áp dụng một cách thức trình bày và phân tích thông tin dữ liệu một cách cân bằng, khách quan, bình thản… Đã có định kiến lại mới căn cứ vào một nguồn (tuy được coi là uy tín) rồi cho đấy là sự thật thì …”cân bằng”, “khách quan ” ở đâu?

    Tôi chỉ nhận định về bài viết chứ chưa nhìn đến sách. Hy vọng ngoài những “tật” nói trên, ông nhận định chính xác cả về tác phẩm lẫn tác giả!

    • Tôi có cùng suy tư như ông/bà Vị Nhân. Xin cảm ơn đã nói hộ. Chia sẻ thêm một chút: Âu là, cũng một căn bệnh của đất nước này!

  3. Ý kiến ngắn

    Chưa có cuốn sách của Huy Đức, nhưng cũng đã đọc khá nhiều những tóm tắt nội dung và cảm nhận về tác phẩm (chắc còn tiếp nối) nên cũng có được nét chính về nội dung của nó. Trong khi chờ đợi, tôi khảo qua internet về Huy Đức và đọc lại „Bức tường Berlin“ từ BBC. Câu kết của bài (không biết có đúng nguyên tác?) có lẽ là suy tư chủ đạo cho công việc viết của ngòi bút Huy Đức:
    Từng là một người lính ở Campuchia tôi hiểu, không có người lính nào sẵn sàng hy sinh nếu không nghĩ, sứ mệnh của mình là giải phóng. Nhưng, không chỉ những người đã nằm xuống, người lính thường kết thúc sứ mệnh sau khi buông súng, mà những việc có ảnh hưởng tới “các giá trị thiêng liêng” khi ấy mới thực sự bắt đầu. Một cuộc chiến không còn được coi là “giải phóng” nếu những gì mà nhân dân cuối cùng được hưởng không phải là độc lập tự do.”

    • Với cách nhìn “giải phóng” thì bác HĐ có lẽ còn hơi vất vả mới có thể trở thành 1 sử gia vô tư như Tư Mã Thiên.

      Tôi cũng rất là bất bình khi tên “sen đầm quốc tế” đế quốc Mỹ “hiếu chiến” xâm lược Nhật bản, Nam Hàn, Tây Đức và VNCH làm chúng “cực khổ, nghèo đói, dãy chết” như bọn Sony, Toyota, Sam sung, Huyndai, BMW, Mercedes, Siemen…

      Tôi mong sao Bắc Triều tiên “giải phóng” cho Nam Hàn, Cộng hòa nhân dân Trung hoa “giải phóng” cho Nhật bản, Cộng hòa liên bang Xô viết “giải phóng” Tây Đức như chúng ta “giải phóng” VNCH khỏi tay đế quốc Mỹ “xâm luợc” để họ cũng được hưởng “thiên đường XHCN” như chúng ta hoặc như các đồng chí anh em Bắc Triều tiên và đồng chí Pol Pot.
      Cuộc sống như vậy mới thực sự là cuộc sống chứ.
      Thiện tai.

    • Lịch sử: Đôi điều trắc ẩn

      Thưa bác Trang chủ và quý bác,
      Tôi có điều phân vân khi muốn trao đổi tiếp về đề tài này.
      Tôi muốn từ một nguồn thông tin tìm ra cái gì rốt ráo để rồi có thể an tâm xếp lại một góc như „thu nhập cá nhân“. Vấn đề „Chiến tranh Việt Nam“ luôn được gợi đi gợi lại qua nhiều hình thức chứng tỏ đó là sự trăn trở lớn của cộng đồng: Không rành mạch với quá khứ thì không thể rõ ràng về tương lai.
      Anh Huy Đức chắc cũng trong tâm trạng như thế mà đẩy suy tư của mình thành những trang sách với nhiều công sức sưu tầm và ngẫm nghĩ. Bản thân tôi trải và chứng nghiệm thời gian không ngắn là cứ động đến chuyện này thì sự phân chia đến „nóng gáy“ trong tranh luận. Vậy nên chăng, hãy nhìn vượt qua các khác biệt để chia sẻ những suy tư, trăn trở cùng nhau?
      Tôi nhắc lại không ít lần rằng có một diễn đàn „tự do, mở, ngoài luồng“ đã khơi mào chuyện này với chuyên mục „chiến tranh nhìn từ nhiều phía“. Đến một thời điểm, khi những người viết trình bày khá đủ về những trải nghiệm cá nhân cũng như của người đương thời, „chuyên mục“ đành dừng để „đợi những người sau có những điều kiện tốt hơn tiếp nối“. Cuốn sách của Huy Đức là sự „tiếp nối“ tất yếu đó chăng? Tôi tán thán hành động của Trang nhà đây khi làm theo một cách khác là nhìn nhận nhau qua những giá trị văn chương, văn hóa, văn học, nghệ thuật, của những con người cụ thể. …
      Mưa dầm thấm lâu“, „Lạt mềm buộc chặt“ là thế chăng? Nhìn nhận này có khiên cưỡng chăng? Có điều: Khi một con người còn bị phân chia tình cảm, phân tán suy tư, con người đó không đủ tâm trí để làm việc gì gọi là lớn lao, đĩnh đạc; Một cộng đồng người, một dân tộc, một quốc gia cũng như thế mà thôi!

      *
      Sử học chẳng qua cũng là cách „nhìn lại“ của cộng đồng người, qua mỗi con người và đến với từng con người.
      Có 2 điều quan trọng đối với việc tìm hiểu và học hỏi „lịch sử“ là SỬ LIỆU và SỬ LUẬN. Sử liệu có được qua công sức thu lượm và ghi chép của sử gia và các chuyên ngành như khảo cổ học. Người chép sử tất nhiên có quyền nêu những kết luận của mình như một „sử luận“. Học giả Trần Trọng Kim chẳng hạn, khi viết „Việt Nam sử lược“ ông đã đánh giá Hoàng Đế Quang Trung là „anh hùng“ và triều đại Tây Sơn là „chính thống“. Tất nhiên là người viết sử phải có „định chuẩn“ của mình làm nền tảng cho bài học rút ra từ các sự kiện lịch sử. Thái sử công đời Tề đã lấy thân mạng 3 người anh em để chép một dòng sử „Thôi Trữ giết vua là Quang“. [Wikipedia]
      Các chuẩn mực của người chép sử là như thế nào? Chắc chắn nó phải dựa trên nền tảng văn hóa là đạo lý và đạo đức của thời đại. Không đứng trên nền tảng đó, với sự nghiền ngẫm nghiêm túc và chính đính thì không thể tự mình hiểu và hiểu nhau được.
      Một thực tế khác nữa là khi chính trị chi phối hoặc cá nhân bị tác động bởi tình cảm chính trị, người ta thường làm theo cách „chổng ngược phi khoa học“ là đặt SỬ LUẬN (định kiến) trước SỬ LIỆU. Rơi vào tình trạng này thì mọi bàn thảo đều không còn giá trị nữa.

      Đôi điều thiển kiến; Mong được trao đổi và học hỏi.

      Thân kính.

  4. Theo thiển ý tôi,tác phẩm của Huy Đức không phải là chính lịch sử
    thuần túy mà là ký giả HĐ.chỉ trình bày và dẫn chứng tài liệu như một
    cách góp phần mình vào việc giúp sử gia viết lịch sử !
    Lâu nay,người ta thường bàn luận về cuộc chiến tranh VN.vừa qua, dựa theo tài liệu mật của phía Mỹ và miền Nam VNCH.đã được giải mã,chứ tài liệu mật phiá CS.miền Bắc chưa được mở ra công khai mà chỉ được tiết lộ hạn chế trên báo chí của nhà nước (đã được kiểm duyệt trước),có tính tuyên truyền hơn là tôn trọng sự thật.
    Như thế,mọi nhận định đều khó đạt đến sự chính xác và chắc chắn đó là cái nhìn đơn tuyến,phiến diện.Nếu muốn chính xác đồng đều thì
    những việc bí mật,ở bên trong hậu trường hay thuộc mặt trận chìm
    như tình báo,phản gián …phải được công khai hóa ở cả 2 phía,chứ
    không chỉ một phiá như hiện nay.
    Thế nhưng,ký giả HĐ.qủa là đáng phục trong cách làm việc của ông
    vì hình như ông có tinh thần suy luận với ý muốn được độc lập,cố vượt ra khỏi thành kiến mà ông từng trải qua !

  5. Một cuốn sách thật hay và có giá trị. Cám ơn bác Tạo đã đăng bài này!

  6. Chân thành cám ơn anh Huy Đức đã nói lên sự thật!

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 307 other followers