HÀN MẶC TỬ VÀ BÀI THƠ THÔN VỸ


ĐẶNG TIẾN

Hoàng Thị Kim Cúc

Hoàng Thị Kim Cúc

Đây thôn Vỹ Dạ

Sao anh không về chơi thôn Vỹ,
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên ?
Vườn ai mướt quá, xanh như ngọc,
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.

Gió theo lối gió, mây đường mây ;
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay ?

Mơ khách đường xa, khách đường xa ;
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?

1939

.

Bản dịch tiếng Pháp :

Le Hameau des Roseaux

Quand reviendras-tu au Hameau des Roseaux
Voir sur les aréquiers se lever le soleil,
Et luisants de velours, ces jardins d’émeraude
Au visage parfait derrière les bambous.

Le vent poursuit son chemin, les nuages les leur,
L’eau s’en va tristement, aux frissons des maïs en fleur
A qui la barque amarrée au clair de la lune,
Pourrait-elle encor la ramener pour ce soir ?

Rêve le voyageur sur sa route lointaine,
Ta robe est si blanche, à peine je reconnais.
Ici, brume et fumée estompent les visages,
Sont-ils, de l’autre, les sentiments encore fervents ?

Đặng Tiến dịch
21.02.2012

*

Đây thôn Vỹ Giạ trong phong trào thơ mới 1932-1945 có lẽ là một trong vài bài thơ  phổ biến nhất, đã được đem ra giảng dạy tại nhà trường dưới nhiều chế độ khác nhau, có thể vì nhiều lý do khác nhau. Bài này chỉ nêu lên giá trị nghệ thuật, trên nhiều địa tầng khác nhau.

Bài thơ làm khoảng nửa sau năm 1939, khi tác giả đã bị bệnh phong hủi nặng, đang điều dưỡng tại Quy Nhơn. Thơ làm khi nghĩ tới, hay để gửi cho người tình trong mộng là Hoàng Cúc sau khi nhận được một tấm bưu ảnh bà gửi từ Huế.

Tiểu truyện kể lại rằng, trước đó, 1932, chàng 20 tuổi, nhà nghèo, làm ở sở đạc điền Quy Nhơn. Nàng mười tám, mười chín, gia đình khuê các, thân phụ là cấp trên của Hàn. Hai người  có lúc cùng ở chung đường. Tình thơ mộng, đơn phương của tuổi hoa niên. Chàng đã từng làm nhiều thơ ca ngợi :

Xiêm áo đêm nay tề chỉnh quá

Muốn ôm hồn cúc ở trong sương

Sau đó, 1934,  chàng bỏ việc vào Sài Gòn viết văn làm báo. Khi sức khỏe suy yếu, có thể biết mình bị chứng nan y, 1936, Hàn về lại Quy Nhơn. Nàng rời Quy Nhơn theo gia đình về Huế. Sau đây là lời Hoàng Cúc, tên thật là Hoàng thị Kim Cúc, trong một lá thư gửi cho Quách Tấn ngày 15-10-1971.

(Sau khi được tin Hàn bị bệnh nặng) « thay vì viết thư thăm, tôi gửi bức ảnh phong cảnh vừa bằng cái carte visite. Trong ảnh có mây, có nước, có chiếc đò ngang với cô gái chèo đò, có mấy khóm tre, có cả ánh trăng hay ánh mặt trời chiếu xuống nước. Tôi viết sau tấm ảnh mấy lời hỏi thăm sức khỏe Tử  rồi nhờ Ngâm trao lại. Sau đó một thời gian, tôi nhận được bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ và một bài khác nữa do Ngâm gửi về… ». (Hoàng Tùng Ngâm, bạn thân của Hàn, là em con chú với bà Kim Cúc).

Chứng từ giúp ta hiểu thêm hoàn cảnh sáng tác, nhưng bài thơ không phải là minh họa cho tấm bưu ảnh. Điều đặc biệt là không khí trong sáng, dịu dàng của tác phẩm hoàn toàn tương phản với  căn bệnh ngặt nghèo đang vào thời kỳ cuối của tác giả, lúc đó. Theo hồi ký của Nguyễn Bá Tín, em ruột:

« Những năm 1938-1939, nhất là năm 1939, anh đau dữ dội hơn hết. Tâm trạng anh biến đổi nhiều qua thơ anh. Giai đoạn này anh sống nửa mơ nửa thực, thường hay xuất thần không biết gì (tr.90).

Trích dẫn hai khổ thơ đầu, ông Tín cho thông tin: « Hai loại thơ nói trên được sáng tác trong cùng một giai đoạn, trong cùng một hoàn cảnh bệnh tật. Cùng trong túp lều tranh xơ xác, dưới cây phượng vĩ tàn tạ, bên bờ biển hoang vắng mà hai trạng thái tâm hồn hoàn toàn khác biệt nhau tùy theo cảm hứng. Tâm trí anh từ ngày đau nặng, vẫn mơ ước thoát khỏi thân tàn ma dại, khỏi không gian và thời gian… »[1]. Trong một hồi ký vừa được in thành sách mới đây, 2010, Bùi Tuân, bạn thân Hàn Mạc Tử đã xác nhận đời sống cơ cực này, tại một xóm nghèo cạnh Quy Nhơn.

Như vậy, chúng ta đă có cái khung về hoàn cảnh sáng tạo bài thơ, giữa 1939. Nhưng văn bản xuất hiện lần đầu, ở đâu, thì chúng tôi không biết, chỉ dựa theo văn bản trong sách Trần thanh Mại, 1941. Ông xếp bài thơ vào thi tập Xuân như ý, dưới tên Đây Thôn Vỹ Giạ (tr.223), chúng tôi tôn trọng chính tả này. Ấn bản sau đó, 1942, Hoàng trọng Miên xếp vào tập Đau Thương, dưới chính tả Vỹ Dạ, thịnh hành ngày nay, và dưới tên Hàn Mặc Tử.

Ngày nay, bài thơ được đưa vào chương trình giảng dạy cấp ba, nhiều soạn giả, như Hà minh Đức, xếp bài thơ vào thời điểm sáng tác 1937, trong đặc san Nắng Xuân, là không đúng.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên…

Là một trong dăm ba câu thơ đẹp và trong sáng nhất trên nền trời thơ Việt Nam. Thần diệu trong đơn giản, câu thơ gợi lên một không gian đơn sơ nhưng tuyệt vời – và không gian ngoại thành Huế ấy cũng là phong cảnh quê hương  chung của chúng ta, mà có lần Văn Cao đã khắc họa trong bài hát«  bóng cau với con thuyền, một dòng sông ».

(Ghi chú ngoài lề : Văn Cao « khám phá »  thơ Hàn Mạc Tử trong chuyến thăm chơi Huế, 1941.)

Đây Thôn Vỹ Giạ gồm 3 đoạn đều cấu trúc trên nhiều câu hỏi, mở đầu bằng chữ Sao. Chữ sao, nghi vấn và biểu cảm, khơi nguồn một bài thơ, sẽ là một đặc sắc của thơ mới :

Sao buổi đầu xuân êm ái thế… (Xuân Diệu)

Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong… (Thâm Tâm)

Nhạc điệu tân kỳ : câu thất ngôn Việt Nam nhịp 3/4 ; câu thơ đường luật nhịp 4/3. Câu thơ Hàn Mạc Tử khác lạ, khoan thai, tự nhiên 2/3/2

Sao anh / không về chơi / thôn Vỹ

Sáu âm bằng liên tiếp, nhịp những bước chân đều, dừng lại ở âm trắc cuối câu. Mãi sau này ta mới gặp âm điệu ấy ở Nguyễn Đình Thi:

Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt

Hay trong Bên kia Sông Đuống của Hoàng Cầm:

Anh đưa em về sông Đuống…

…Ai về bên kia sông Đuống

…Bao giờ về bên kia sông Đuống

Độ dài ngắn từng câu có phần xê xích, nhưng âm hao thì gợi nhớ câu thơ Hàn Mạc Tử.

Địa danh sông Đuống đưa âm trắc bất thường về cuối câu, nhắc đến tên thôn Vỹ.

Trần Thanh Mại [2] là người uyên bác và đã dày công đưa ra chuyên luận đầu tiên về một nhà thơ đương đại, và đề cao Hàn Mạc Tử, từng ca ngợi bài thơ này như một « viên ngọc vô ngần quý giá (tr.60), nhưng lại chê câu đầu là một « sơ suất » : câu ấy là một câu nói thường chứ không thể là một câu thơ, « Vỹ » cũng không vần với « lên » với « điền » hay với « ngọc » được (tr.224).

Hàn Mạc Tử hoàn toàn theo đúng âm luật khi dùng vần trắc như thế, như ông đã làm nhiều lần : « trăng nằm sóng soải trên cành liễu », và như Huy Cận viết « sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp ». Chỗ này, ngược lại, là một « sơ suất » của chính Trần Thanh Mại, có lẽ vì chủ quan và viết vội. Còn nói rằng, đây « là  một câu nói thường,  không thể là một câu thơ » là một lỗi thẩm âm. Thơ hay, là khi câu thơ đi gần tới văn xuôi mà không phải văn xuôi ; văn xuôi hay là khi câu văn đi gần tới thơ nhưng không là thơ. Ví dụ từ Xuân Diệu:

Đã nghe rét mướt luồn trong gió

Đã vắng người sang những chuyến đò

Câu trước văn vẻ, trau chuốt, hay cái hay thông thường của văn chương ; câu sau hồn nhiên, hay cái hay kỳ diệu của chất thơ, một nghệ thuật vượt qua kỹ thuật. Câu thơ hay thường khi là ngôi sao sáng một mình, mà Roman Jakobson gọi là hiện tượng câu thơ mồ côi, không phải trường hợp câu « sao anh không về chơi thôn Vỹ », vì âm điệu mà ông Mại cho là « trái tai », đã chuẩn bị cho một câu khác, ở phần sau, cũng ngoại luật :

Mơ khách đường xa khách đường xa

Bình thường, theo âm luật, thì trong câu thơ thất ngôn, chữ thứ hai và thứ sáu phải cùng một thanh, hoặc bằng, hoặc trắc.

Bài  Đây thôn Vỹ Giạ là một trong ba bài Trần Thanh Mại đưa ra để chứng minh rằng « hầu hết thơ bảy chữ của Hàn Mạc Tử không kể bài thơ dài ngắn, đều đã theo luật bằng trắc của Đường thi (…) âm điệu hiển nhiên, bất di bất dịch, không còn bác bẻ được nữa » (tr.222). Nhưng… Hàn đã bác bẻ : bài thơ thôn Vỹ gồm ba đoạn mà cả hai đoạn đầu … không niêm. Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Bính… không bao giờ làm thơ « thất niêm » như vậy.

Ngoài ra, trong thơ bảy chữ của Hàn, đây đó, nhiều câu lạc vận.

Nêu lên vấn đề này, không phải để đôi co với Trần Thanh Mại – người tôi cảm  phục –  mà chỉ để nói rằng, trên câu thơ mở đầu một bài thơ được truyền tụng vẫn có  đôi điều cần thưa đi gửi lại.

Ngay từ Sao khơi nguồn bài thơ đã là một từ ý nhị và tế nhị. Bình thường nó là từ nghi vấn. Nhưng khi viết « Ôi nắng vàng sao mà nhớ nhung » thì Huy Cận không hỏi ai điều gì.

Trong truyện Kiều, Nguyễn Du dùng chữ sao 73 lần, có khi trong 4 câu liên tiếp : « khi sao…, giờ sao… mặt sao… thân sao…», nhưng thường dùng trong chức năng biểu cảm.

Từ sao đầu bài thơ dào dạt nhiều tâm tình, chủ yếu là lòng chờ đợi, mà ta đã gặp trong những bài thơ đầu tay của Hàn như trong Tình Quê :

…Cách nhau ngàn vạn dặm

Nhớ chi đến trăng thề

Dầu ai không mong đợi

Dầu ai không lóng nghe…

Hai khổ thơ sau cũng cấu trúc trên thể nghi vấn, « thuyền ai… có chở… ai biết », nhưng không để hỏi, dù là tự hỏi, mà chỉ thể hiện lời đối thoại nội tâm, như những vòng sóng gợn lăn tăn trên mặt hồ. Những trầm tư hòa điệu kỷ niệm với ước mơ, những tiếc nuối mông lung, nhớ nhung bàng bạc, những tình cảm không tên, có khi đã man mác trôi qua hay chập chờn chưa hình thành. Những dự phóng, hồi quang dang dở. So đo, đem từng câu thơ ra diễn giảng một cách duy lý là không thể. Dịch ra tiếng nước ngoài cũng khó.

*

Sao anh không về chơi thôn Vỹ

Thanh điệu làm nổi bật chữ « về », dấu huyền, giữa câu, đáng lẽ phải là âm trắc theo quy luật Gió theo lối gió, mây đường mây. Chữ « về », đắc địa và đắc ý, là một từ rất Huế. Người Việt dùng chữ về để diễn tả sự trở lại : về nhà, về làng, về nước, về nguồn… ; người Huế, đi đến nhà bạn, ở xa, cũng dùng chữ « về », thân ái, tâm tình. Mỗi tình bạn là một quê hương, một đợi chờ, « một cõi đi về » như tên bài hát người Huế Trịnh Công Sơn. Lại mang máng nhớ thêm : « Sao em không về…Trong cơn đau vùi…Làm sao có nhau… ». Phạm Duy, không phải người Huế, cũng viết Về Miền Trung, và đã tế nhị lập lại nhiều lần động từ về trong nghĩa tâm tình đó. Mà về, thôn Vỹ xa xuôi, chỉ để « nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên ».

Tiếng Việt phân biệt nắng với mặt trời. Thấy nắng trước khi thấy mặt trời ; câu thơ diễn tả niềm vui, có khi là hạnh phúc, khi bắt gặp tia nắng trên đọt câu, rồi mới ý thức được ánh sáng ngoại giới, êm ả như cảnh Nắng trong vườn của Thạch Lam. Nắng đẹp thường là nắng mới, và nắng sớm ; và đẹp nhờ thiên nhiên phản chiếu. Cây cau đẹp vì thân mảnh mai cao vút, cắt những tàu lá nhọn rủ xuống trên nền trời ; lá trúc cũng vậy. Tàu cau, cành trúc giúp ta yêu một màu trời, nâng tầm nhìn và tầm suy nghĩ lên cao để yêu một khóm mây, một làn gió, một tia nắng quái, một mảnh trăng non.

Người Huế, chính xác hơn là người Vỹ Dạ, Bửu Ý đã có lời ca ngợi tàu cau trong bóng nắng chiều thậm hay : « Ở làng quê, cây mau cao nên chiều mau xuống (…). Tàu cau nhễu bớt bụi sáng xuống nụ tầm xuân. Chị ru em bằng tiếng hát bèo trôi » [3].

lên thoạt tiên trên những đọt cau có khi còn lóng lánh sương đêm, rồi mới xuống dần, xuống dần, theo từng đốt thân cau, cao và thẳng đứng, xuống dần đến mảnh vườn xanh như ngọc.

Vườn ai mướt quá

Từ « ai » đã từng gây hiểu lầm. Nó là từ phiếm định, không chỉ riêng vườn của một chủ nhân nào cụ thể, mà có nghĩa là một mảnh vườn nào đó, của ai đó, như chữ ai trong câu cuối tiểu thuyết Đôi Bạn của Nhất Linh « đèn nhà ai mới thắp, yếu ớt trong sương, trông như một nỗi nhớ xa xôi đang mờ dần… ». Vì tính cách phiếm định đó mà trong các bản dịch ra tiếng Pháp của nhà xuất bản Ngoại văn, Hà Nội (1975, tr. 438), hay Gallimard-Unesco, Paris (1981, tr. 149), người dịch đã sử dụng số nhiều « les jardins », thậm chí « mặt chữ điền » cũng số nhiều. Bản Peras và Vũ thị Bích, Paris (2001, tr.161) dịch vườn ai thành « un jardin » cũng trong thể phiếm chỉ.

Sở dĩ phải dài dòng như vậy, vì gần đây, Nguyễn Bá Tín giải thích « vườn ai » là ám chỉ vườn bà Kim Cúc, mà ông có đến viếng, khiến bà đã bất bình ; vì vườn bà , không trồng cau, là loại cây « bình dân », « và cũng không ai trồng cau ở Vỹ Dạ » [4]. Gần đây, người trong gia đình bà Kim Cúc cho tôi biết, khu vườn Hàn Mạc Tử đã đến 1936, và nơi ông Tín đến, 1985, cùng thuộc Vỹ Dạ, là hai chốn khác nhau, và bà không nói những câu ông Tín nêu lên.

*

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

Vườn. Ôi vườn xưa trong những bóng trưa ! Người xưa tượng trưng hạnh phúc địa đàng trong một khu vườn. Tôi mường tượng là một khu vườn thôn Vỹ, đơn sơ như lời tả của Bửu Ý, bạn tôi : bụi hóp sống chung với hàng chè tàu, vườn trước thì nở tằn tiện một hai khóm hoa đủ làm vui mắt người đi đường. Đã có người gọi đồng bằng sông Cửu Long là văn minh Miệt Vườn, cũng có người gọi văn hóa Huế là văn hóa Vườn, mà Lê quý Đôn đã từng ca ngợi. Vườn ai mướt quá… Âm hao mềm mại, óng ả, lưu luyến nhờ những nguyên âm đôi, làm nổi bật chữ ai dịu dàng, tình tứ, rất Huế : ai ngồi ai câu, ai sầu ai thảm, ai thương ai cảm, ai nhớ ai mong… thuyền ai thấp thoáng trên sông.

Lá trúc che ngang… Lá trúc ở đây, là rào dậu, phân định ranh giới của vườn. Không rào dậu thì không thành vườn.Vườn là một địa phận môi giới, giữa cõi trong và cõi ngoài, chưa phải là cõi riêng nhưng không còn là của chung. Là trung gian giữa thiên nhiên và văn hóa. Là nhân loại chuyển mình từ đời sống du mục sang đời sống định cư, là giấc mơ đoàn tụ giữa Chức Nữ với Ngưu Lang, lời tình tự lứa đôi, có cu gáy và bướm vàng nữa chứ…( Huy Cận). Là hạnh phúc có khi đang thực tại, có khi trong ước mơ hay niềm tiếc nuối một thiên đường đã mất. Thiên đường xanh những mối tình thơ dại, chẳng hạn, như thơ Baudelaire, một trong những bậc thầy Hàn Mạc Tử.

Hãy trả lại cho Hàn Mạc Tử hàng cau thôn Vỹ trong những vườn trăng: « ai nói vườn trăng là nói vườn mơ. Ai nói bến mộng là nói bến tình. Người thơ là khách lạ đi giữa nguồn trong trẻo. »

Câu văn này, mở đầu lời Tựa tập Thơ Điên, tình cờ thôi, như cô đọng cả bài thơ Thôn Vỹ, một dòng suối tuôn ào ra khỏi tâm tư. Nó là một tâm cảnh, một thực thể duy nhất, cần được nhìn và cảm nhận như một tổng hòa toàn bích, và cảm nhận bằng trực quan thẩm mỹ.

Một tác phẩm nghệ thuật, bản nhạc, bài thơ, bức tranh, là sáng tác của một cá nhân nghệ sĩ, trong một khoảnh khắc, một địa phương nhất định, nhưng đồng thời nó cô đúc rung cảm của nhân loại từ muôn nơi, muôn thuở. Câu thơ:

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

Có chở trăng về kịp tối nay

Không khỏi gợi nhớ một câu của Trương Nhược Hư (đời Đường, đầu thế kỷ VIII) trong Xuân giang hoa nguyệt dạ (Đêm hoa trăng trên sông xuân, nguyên là tên một điệu hát xưa) :

Thùy gia kim dạ thiên chu tử

Hà xứ tương tư minh nguyệt lâu.

(Nhà ai đêm nay dong thuyền nhỏ

Chốn nào tương tư lầu sáng trăng)

Không cần dịch khó khăn, tôi bê nguyên si câu thơ Hàn Mạc Tử vào :

Thuyền ai đậu bến sông trăng đó

(Trăng sáng lầu ai thương nhớ ai)

Xem đại ý, thậm chí lấy từng chữ ra mà so, cũng không xê xích bao nhiêu. Mà cũng chưa chắc Hàn Mạc Tử đã biết Trương Nhược Hư. Nghệ thuật quả là một thế giới đòng cảm kỳ diệu.

Thuyền ai đậu bến sông trăng

Còn nhắc câu thơ Tản Đà dịch Phong kiều dạ bạc của Trương Kế đời Đường :

Thuyền ai đậu bến Cô Tô…

Câu này thì Hàn chắc biết.

Sau đó:

Mơ khách đường xa, khách đường xa

Là một câu thơ khó hiểu. Ai mơ, chủ từ của động ngữ là gì ? Người dịch ra tiếng nước ngoài, để tạo mạch lạc với câu tiếp theo, thường cho khách đường xa làm chủ từ. Đây là một trong nhiều cách tiếp cận ; nhưng câu thơ có thể không duy lý, mà chỉ là lời lẩm bẩm trong một giấc mơ thức tỉnh, và cả đoạn thơ chập chờn như một giấc mơ, gợi nhớ đến bài Mon rêve familier (Giấc mơ thân thuộc) của Verlaine, thậm chí bài Nắng mới của Lưu Trọng Lư «  chập chờn sống lại những ngày không », dĩ nhiên là nội dung khác biệt.

Khách đường xa có thể là hồi âm câu đầu sao không về, qua một không gian đã trùng trùng xa cách.

Áo em trắng quá : trắng màu trinh nguyên, ngây thơ, vô nhiễm, linh hiện trong giấc mơ vô tội. Áo trắng đơn sơ mộng trắng trong… (Huy Cận) lung linh, huyền huyền ảo ảo, mờ  sương mờ khói.

Sương khói ở đây là thời gian xa cách, che lấp và bôi nhòe, tan biến. Như ý một câu thơ cổ, trong Hoa Tiên : đã sương đã khói đã vài năm nayNhân ảnh là từ hán việt duy nhất trong bài thơ, một từ uyên bác trong cõi nôm na, tạo thêm nét cổ kính, trang trọng cho một lời tâm sự đơn giản. Có lẽ tác giả đã mượn ở Cung oán ngâm khúc một hình ảnh vô cùng hợp tình hợp cảnh : Ai đem nhân ảnh nhuốm mùi tà dương. Trong bài thơ thôn Vỹ, chữ nhân ảnh có nghĩa là hình bóng người xưa, một chút nghĩa cũ  càng đang mờ dần nhạt dần với thời gian. Nhưng hiểu rộng ra, trong kinh Phật, nó còn diễn tả kiếp sống mong manh, có có không không. Các cụ sẽ xem câu thơ đây là điềm dữ cho tác giả, một câu thơ « trệ », báo hiệu  việc không may. Như cái chết sắp đến.

Hiểu như vậy là lìa xa văn bản, nhưng xích gần lại định mệnh thảm khốc của nhà thơ.

Vì chỉ khoảng một năm sau khi sáng tác Đây thôn Vỹ Giạ, Hàn Mạc Tử qua đời, đi vào Vườn trăng Vĩnh viễn.

Orleans, 21.2.2012

_____________

[1] Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử anh tôi, tr.94. Nxb Tin, 1990, Paris

[2] Trần Thanh Mại, Hàn Mạc Tử, 1941, nxb. Võ Doãn Mại, tái bản 1942, Sài Gòn.

[3] Bửu Ý, Dạ khúc, báo Văn, 1965, in lại trong Ngày tháng thênh thang, tr. 48, nxb Văn Học, 2011.

[4] Nguyễn Bá Tín, Hàn Mặc Tử trong riêng tư, phần 4, trên mạng lưới dunglac.org. Đã in, nxb. Hội nhà văn, 1994, Hà Nội.

About these ads

2 phản hồi

  1. Đọc “Nơi đây thôn Vỹ Dạ” đã hay, thêm bài viết nầy càng thấy hay gấp bội, Đặng Tiến vẫn luôn tài hoa trong những bài bình thơ.

  2. moi nguoi post that nhìu pài de júp do nhug ban khó khan trong van hoc nhá

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 298 other followers