NGUYỄN THỤY KHA
2. Tình đầu
Người Quy Nhơn hình như yêu thi sĩ
Ai ở đây một thời làm mới lại thơ ca
Nguyễn Thụy Kha
Trí ném tờ báo lên bàn, ngồi ngả lưng vào ghế, hít một hơi thở dài. Tờ Phụ Nữ Tân Văn số 122 trượt ra mép bàn. Thế là thành trì thơ cũ đã thủng một lỗ. Với bài “Một lối thơ mới trình chánh giữa làng thơ”, tờ báo thân thuộc này đã nhóm lên giữa Sài Gòn hoa lệ một cuộc cách mạng thi ca. Trí nhìn quanh và thấy dường như đâu đâu có một con mắt có đuôi như câu thơ Phan Khôi kết bài “Tình già”. Đã khác rồi, từ 10.3.1932. Thực ra với Trí điều này không còn lạ lẫm nữa. Trí nghĩ tới Bô-đờ-le (Baudelaire).
Khi tập “Ác hoa” của Bô-đơ-le ra đời, đô thành văn học Pháp không hề nhúc nhích. Ngược lại sau hai tháng xuất bản, Bô-đơ-le phải hầu tòa và bị phạt vạ 300 quan tiền và phải xóa đi 6 bài trong tập. Ngay cả đến năm 1855, để có thể in cho Bô-đơ-le 18 bài thơ sau khi đã cắt xén, sửa chữa ít nhiều kèm thêm lời giới thiệu rào đón, tờ tạp chí “Hai thế giới” vẫn phải chịu nhận nhiều thư độc giả trách móc “tại sao lại in cái thứ thơ kinh khủng, quái gở ấy”. Người đọc thơ hồi đó đã không thể thông cảm được với nhà thi sĩ của nguồn cảm thông hòa điệu, nhà thi sĩ đầu tiên khai mở ra dòng thi sĩ tượng trưng với quan niệm “hương, sắc và âm thanh giao hưởng”. Bô-đơ-le đã tuyên ngôn:
Chúng tôi muốn khi lửa hồng thiêu óc
Đắm mình vào đáy thẳm của vực sâu
Tìm tân kỳ nơi cung cấm nhuộm mầu
Mặc kệ tất, dẫu thiên đường địa ngục.
Không chỉ riêng thế kỷ 19, Bô-đơ-le đến hôm nay đã là một ý niệm, một vạch ranh giới của thế giới thi ca. Có thứ thơ trước Bô-đơ-le và thứ thơ sau Bô-đơ-le. Cũng không chỉ riêng ở nước Pháp mà đã lan ra toàn thế giới, đến cả cái góc Quy Nhơn nhỏ xinh của xứ An Nam xa xôi này, ánh sáng Bô-đơ-le đã soi rọi tới như năng lượng điện mà trước khia chưa hề có ở đây. Ngọn lửa đèn tọa đăng của Đường thi đã không thể át được ánh đèn điện mà Bô-đơ-le tìm ra. Ông cũng như các nghệ sĩ đi tìm vô cùng và tuyệt đối, ra đi với tấm lòng thanh thản, tinh khôi, nguyên vẹn. Dù có vấp phải vật cản xã hội, Bô-đơ-le đã vượt qua và đã tới đích.
Trí đứng vụt dậy đi ra cửa. Con đường Khải Định chạy băng qua Quy Nhơn như một nét cắt ngang. Một bóng thiếu nữ rất Huế lướt qua. Vẻ kiêu sa, phong thái nhàn hạ của con nhà khuê các như muốn hút Trí ra khỏi cửa. Trí thầm kêu: “Kim Cúc”. Những chữ nghĩa và cái tên Hoàng Hoa nữ sĩ của Kim Cúc chợt hằn lên trong Trí. Trí thoáng nghĩ tới huyền thoại về Bô-đơ-le với cô nhân tình bồ hóng Giên-duy van có thân hình đen bóng như gỗ mun. Nhưng Trí là người phương Đông. Và Trí phải dừng lại bên cửa.
Tờ Phụ Nữ Tân Văn chợt theo gió lùa bay xuống dưới chân Trí. Với thơ mới cũng thế. Trí đã thấy rằng mình phải có mặt trong cuộc cách mạng này. Nhưng dễ gì đã trút bỏ ngay được thói quen Đường luật cũng như thói quen “nam nữ thụ thụ bất thân” mà các bậc cha ông dạy dỗ. Người con gái đang thướt tha trên đường kia, Trí chỉ biết mà không quen. Chỉ láng máng cảm thấy một cái gì chớp qua như tiền định. Nhưng có thể chốc lát. Với thơ mới cũng vậy. Song Trí sẽ tìm cách đến với thơ mới, cũng như …
Trí dúi phong thư cho Hoàng Tùng Ngân. Gương mặt chợt hồng ửng một thẹn thùng. Ngân nhìn Trí cười thông cảm. Lá thư này sẽ phải bay tới tay ai, Ngân đã biết.
Từ ngày vào làm ở sở Đạc Điền, tính tình Trí trở nên vui vẻ hơn. Công việc nhàn rỗi nên Trí hay ngâm vịnh. Thường là cứ thế ngâm đi, ngâm lại câu Kinh Thi:
Quan quan thư cưu, tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ, quân tử hảo cầu
Hoặc một câu khác:
Lứa đôi ai đã đẹp tày Thôi Trương …
Cũng ở sở Đạc Điền, Trí quen Hoàng Diệp và Hoàng Tùng Ngân. Ngân là cháu ruột cụ thương tá Hoàng Phùng- giám đốc sở địa chánh. Và Kim Cúc chính là ái nữ của cụ Phùng.
Mấy bữa trước, Trí đã nhờ Ngân chuyển tới Kim Cúc những vần thơ đầu tiên:
Thu về nhuộm thắm nét hoàng hoa
Sương đẫm trăng lồng bóng thướt tha
Vẻ mặt khác chi người quốc sắc
Trong đời tri kỷ chỉ riêng ta
Theo Ngân nói, Kim Cúc có cảm động sơ những câu thơ dễ thương như anh học trò bỡ ngỡ. Thế là Trí lại tiếp tục nhờ vả người bạn có tính trầm ngâm, có cái miệng sang tướng làm công việc của “ông mai”. Bài tứ tuyệt lần trước coi như bài vịnh về hoa cúc. Còn bài này lại nói về việc trồng hoa cúc:
Thích trồng hoa cúc để xem chơi
Cúc ngó đơn sơ lắm mặn mòi
Đêm vắng, gần kề, say chén nguyệt
Vườn thu vắng vẻ đủ mua vui
Chia tay Ngân, Trí về nhà lòng tràn hy vọng. Trăng đã lên. Trăng ở Quy Nhơn bởi gần núi nên được làm mờ đi vì sương núi buổi hoàng hôn. Trăng như tình cảm của Trí với người thiếu nữ mà chưa dám nói rõ, vẫn đang mờ tỏ trong một trái tim đã cảm chộn rộn.
Nằm trên giường đã lâu mà chưa ngủ được. Trí rung đùi khẽ ngâm. Ánh trăng lọt qua cửa sổ vào chỗ nằm như gợi:
Hoa cười nguyệt rọi cửa lồng gương
Lạ cảnh buồn thêm nỗi vấn vương
Tha thướt liễu in hồn gợn bóng
Hững hờ mai thoảng gió đưa hương
Xa người nhớ cảnh tình lai láng
Vắng bạn ngâm thơ rượu bẽ bàng
Qua lại yến ngàn dâu ủ lá
Hòa đàn sẵn có dế bên tường
Ngâm nga mãi mà hai mắt vẫn thao láo, Trí nhớ đến thể hồi văn của thơ luật. Thế thì đọc ngược lại cho vui:
Tường bên dế có sẵn đàn hòa
Lá ủ dâu ngàn yến lại qua
Bàng bẽ rượu thơ ngâm bạn vắng
Láng lai tình cảnh nhớ người xa
Hương đưa gió thoảng mai hờ hững
Bóng gợn hồ in liễu thướt tha
Vương vấn nỗi thêm buồn cảnh lạ
Gương lồng cửa rọi nguyệt cười hoa.
Vẫn chưa ngủ được. Thế thì bỏ thất ngôn làm ngũ ngôn. Thử bỏ hai chữ trước xem sao:
Nguyệt rọi cửa lồng gương
Buồn thêm nỗi vấn vương
Liễu in hồ gợn bóng
Mai thoảng gió đưa hương
Nhớ cảnh tình lai láng
Ngâm thơ rượu bẽ bàng
Yến ngàn dâu ủ lá
Sẵn có dế bên tường
Nghe chừng thấy cũng hay hay. Nhưng làm thế nào mà chợp mắt được bây giờ. Thì cứ bỏ thêm hai chữ sau cho quên:
Hoa cười nguyệt rọi cửa
Lạ cảnh buồn thêm nỗi
Tha thướt liễu in hồ
Hững hờ mai thoảng gió
Xa người nhớ cảnh tình
Vắng bạn ngâm thơ rượu
Qua lại yến ngàn dâu
Hòa đàn sẵn có dế
Trí cười thầm. Chơi chữ đến chán thì thôi. Mí mắt đã có vẻ muốn díp lại. Trí như trôi vào một chiêm bao. Trí bỗng thấy mình gặp rất nhiều người lạ. Rồi mùi hương từ đâu ngan ngát như mùi cúc. Rồi trước mặt Trí là nàng. Đôi môi nàng cọ sát vào môi Trí. Trí đang ngây ngất thì một con thú dữ vồ lấy Trí. Trí thét lên … Mở mắt ra, Trí thấy đôi tay đang ghì chặt cái gối bông. Cô đơn vây lấy đầy mình. Nước mắt chợt ứa ra. Một cái gì buồn thương tiếc giây phút âu yếm trong mộng mị bỗng bị sức mạnh của sự thực cướp mất. Sự tỉnh táo đến phá đám. Người trí như bải hoải, rã rời trong ánh trăng như ánh sáng của sự thực.
Mấy hôm nay, Trí như người mất hồn. Quách Tấn khi biết Trí “trồng cây si” thì cho là Trí không may vì không môn đăng hộ đối. Nhưng thực sự hai phụ thân đã từng quen biết nhau từ đầu thế kỷ. Và cha Trí cũng đã làm đến Tham tá. Hơn nữa theo Ngân, Kim Cúc rất thích thơ Trí. Khi nhận thơ của Trí tặng, Kim Cúc không hề tỏ ra từ chối. Cái khó, cái chua xót là vấn đề lương, giáo. Gia đường Kim Cúc theo Phật giáo rất nghiêm chỉnh, chắc không thể nào để cho một người con có lễ nghĩa, đi ra ngoài khuôn khổ mực thước của dòng họ. Kim Cúc im lặng với Trí, nhưng có thổ lộ với Ngân. Có khi, sự im lặng vẫn ẩn giấu một hy vọng. Trí nghĩ thế song vẫn không khỏi buồn.
Độ này, Quy Nhơn đang dịu như mùa thu dẫu mùa thu mới gần tới. Nhưng trong lòng Trí, trăng thu đã mờ mờ lạnh. Cuộc đời yên bình, sao nàng còn ái ngại. Thi sĩ thì bao giờ cũng điên dẫu tài năng thì có giới hạn. Nàng như cô lái đò đã lên bờ. Không có ái tình tuyệt đối. Yêu đương chỉ là trạng thái tâm hồn. Gò má đỏ ửng lên. Đây là hơi máu dồn lại, vì thẹn, vì hơn, vì cảm, …, vì say nắng ban mai. Nàng ở Huế chắc đã ăn đào. Hãy cắn miếng nữa và cắn cho sâu để cho tôi được hưởng ái ân. “Nhứt nhựt bất kiến như tam thu”. Nếu nàng như mùa thu đến, thì dù có phải quỳ lạy dâng tất cả những ngày sung sướng đã qua và sẽ tới cho nàng để đổi lấy một phút gặp gỡ … cũng xin vâng.
Bao nhiêu ý nghĩ cứ quay cuồng trong Trí như từng đợt gió thu, từng đường lượn chao của cánh nhạn. Trí ngồi đọc sách ở nhà Xéc mà không yên. Vẫn những lời của Bô-đờ-le: “Ta phải say luôn. Mọi sự đều ở đó. Vấn đề duy nhất để ta khỏi bị cảm thấy ám ảnh bởi gánh nặng ghê tởm của thời gian đang chèn vỡ đôi vai, và dấn đầu anh xuống đất kia …”. Trí ngẩng đầu, lẩm nhẩm:
Ấp a ấp úng chẳng nên lời
Tình thu bi thiết lắm thu ơi!
Vội vàng cánh nhạn bay đi trớt
Hiu hắt hơi may thoảng lại rồi …
Nằm gắng cũng không thành mộng được
Ngâm tràn cho đỡ chút buồn thôi
Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt
Cảnh sắp về đông mắt lệ vơi
Không cách gì xua đi nổi. Lại ám ảnh Đường thi, lại ám ảnh gương mặt người thiếu nữ mình đã đem lòng yêu.
Cơn mưa đột ngột trút xuống. Trí đứng trong nhà Xéc nhìn ra màn trời mù mịt như đang khóc thay lòng mình. Những hình núi nhấp nhô như những câu từ Khúc của Đào Tấn. Trí chợt như nhận ra điều gì. Rõ ràng ở từ Khúc, Đào Tấn viết rất lạ rất mới về nhịp. Với Đường thi, Trí có thể bỏ dần đối ở các liên, sự hạn câu của luật. Nhưng thể thơ và âm điệu thì dường như đã gắn chặt vào lòng như cái tình đầu bâng khuâng kỳ lạ này.
Mưa vẫn nức nở. Biển ngoài kia vẫn động sóng ầm ì. Vài cánh buồm phía xa như chới với, chao đảo. Những cây keo xanh mướt hơn, ướt át trong mưa. Trí phóng tầm mắt thật xa để cố nhận ra cù lao xanh nhô ra biển trong màn mưa. Tự nhiên Trí cứ ước một ngày nào đó, sẽ cùng Kim Cúc sang nơi ấy, leo trên những mỏm đá cheo leo để đón một ngọn gió mang theo hơi lạnh từ khe núi. Rồi dưới một vòm đá nào đó, lửa của củi khô sẽ nhóm lên. Gương mặt đẹp như một Phật bà sẽ nhòa đi trong lửa cùng gương mặt mang tên Thánh Fan-xi-cô khắc khổ của Trí. Các thánh thần như bay lên cao để cho hai con người, hai người yêu nhau đến với nhau trong tình đầu có ngọn lửa chứng giám.
Filed under: Văn Thẻ: | HÀN MẶC TỬ, NGUYỄN THỤY KHA




