THƠ VÀ TỰ DO


Từ trái sang phải: Du Tử Lê, Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo

Từ trái sang phải: Du Tử Lê, Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo

(Trích cuộc trò chuyện của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê, Trần Mạnh Hảo)

(…) Nguyễn Đức Tùng: Tôi xin nhắc lại và diễn giải một ý của anh Thanh Thảo: thơ không phải dành cho đám đông, mà dành cho một số nhỏ người đọc. Thơ không đọc ở quảng trường mà dành cho sự sâu thẳm của tâm hồn và như thế chỉ có những người đọc tinh hoa mới hiểu được thơ mà thôi.

Nguyễn Trọng Tạo: Câu chuyện của anh Nguyễn Đức Tùng rất thú vị. Nhân các anh đang nói về Thơ và Tự do. Vậy tôi xin nói về ý này trước. Có một số nhà thơ đòi tự do. Họ đi đòi tự do nhưng lại không làm thơ (bởi thơ họ có khi chỉ là vè). Có những nhà thơ không đi đòi tự do, họ chỉ đóng cửa lại để làm thơ, nhưng thơ họ lại là thơ đòi Tự do. Trong thơ của họ có sự đấu tranh đòi tự do. Và có những nhà thơ bị tù, bị cấm, nhưng họ lại làm ra những bài thơ hoàn toàn Tự do. Như vậy đối với một số nhà thơ, bất chấp hoàn cảnh, họ vẫn có tự do của mình để làm thơ như họ muốn.

Trong khi đó đáng buồn thay có những nhà thơ đang hoàn toàn tự do, thậm chí nắm cả quyền lực trong tay, thì lại đi làm ra một thứ thơ nô lệ, thơ xu phụ.

Như thế thì quan hệ giữa tự do và thơ ca nằm ở đâu? Trong bất cứ một thể chế nào, câu hỏi đó vẫn mãi mãi đặt ra. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ cũng không được quyền khước từ ý chí đi tới tự do, con đường đi tới tự do.

Hôm nay có tự do, ngày mai có thể đã trở thành nô lệ rồi. Hôm nay ta thấy cái đang có, thì ngày mai nó lại biến mất. Sự vật luôn luôn vận động. Tôi nghĩ khái niệm của nhà Phật về sắc sắc không không chính là dạy ta một cách khác để tiếp cận với Tự do. Trong thơ ca cũng thế, chúng ta đi tới tự do như thế nào? Đó là những câu hỏi không thể một lúc trả lời xong. Những ý kiến của các anh Trần Mạnh Hảo, Du Tử Lê, Thanh Thảo, là những ý kiến mà tôi rất tâm đắc, và lúc nào cũng trăn trở. Đặc biệt trong những giai đoạn lịch sử vừa qua, cuối thế kỷ XX, tự do luôn luôn là nỗi bức xúc của chúng ta.

Du Tử Lê: Tự do luôn luôn là nỗi bức xúc của chúng ta. Ý của anh Nguyễn Trọng Tạo tôi nghĩ rất hay.

Nguyễn Trọng Tạo: Thế thì anh có tự do làm thơ hay không? Tôi nghĩ rằng dưới một số thể chế nào đấy, nếu anh không tự dành cho mình tự do, thì anh chẳng bao giờ có tự do. Có những thể chế mà cánh cửa tự do đang khép, nhưng không ai có thể khép được cánh cửa ở trong anh. Điều ấy mới là quan trọng. Cánh cửa tự do của nhà thơ lúc nào cũng mở ngay cả trong những thể chế mà chúng tìm cách đóng nó lại, chỉ lúc ấy chúng ta mới có tự do.

Và nếu anh tài năng, thì anh sẽ tự mở cánh cửa Tự do ấy, và có thơ ca đích thực.

Còn nếu anh đòi tự do mà anh lại không có thơ hay, thì thơ của anh chỉ là vè, và nó không phục vụ cho mục đích của anh.

Gần đây cũng có những người dán cho mình nhãn hiệu là đi đòi tự do, nhưng họ lại đang tạo ra những xiềng xích mới. Tuy nhiên trong những hoàn cảnh bị đàn áp, dưới những thể chế hay những chính sách mất tự do, việc đấu tranh của những người đòi tự do dĩ nhiên bao giờ cũng là việc tốt, vấn đề là họ có đang làm văn học hay không.

Hãy lấy ví dụ về Nhân văn-Giai phẩm (NVGP). Sau vụ đàn áp NVGP, Hoàng Cầm có tập thơ Về Kinh Bắc. Sau 1975, tôi đọc được bản đánh máy của tập thơ, tôi bần thần mất mấy ngày. Tôi thấy nền thơ chống Mỹ của miền Bắc, hay nền thơ của miền Nam trước 1975, không có điều ấy.

Ta con bê vàng lạc dáng chiều xanh
Đi mãi tìm sim chẳng chín
Ta con chào mào khát nước
Về vườn xưa
Hạt nhãn đã đâm mầm

Sao lại có một thứ thơ xa xăm như thế. Những tài thơ của NVGP không hề có một chút tự do nào trong xã hội miền Bắc thời bấy giờ. Những nhà thơ NVGP tìm cách thoát ra bằng một loại thơ khác, lặng lẽ, sâu kín, một thứ thơ cảm giác. Mà thơ như thế thì khó bị đánh. Nếu như họ làm một thứ thơ trực tiếp, nói thẳng tâm trạng của họ ra, thì họ còn bị đánh tan tác hơn nữa.

Nguyễn Đức Tùng: Anh gọi đó là thơ cảm giác?

Nguyễn Trọng Tạo: Đúng, nó là thơ cảm giác. Nhưng trên cơ sở của một nền văn hoá thơ khá cao. Đối với Hoàng Cầm là một tiềm thức văn hoá Kinh Bắc

Có lần tôi nói với anh Hoàng Cầm rằng tập thơ Về Kinh Bắc của anh là tập thơ xương sống, hay hơn những tập thơ khác của anh, hay hơn Bên kia Sông Đuống.

Về Kinh Bắc đã đưa cả Hoàng Hưng lẫn Hoàng Cầm vào tù. Tức là thể chế này đã đưa một người viết ra tập thơ là Hoàng Cầm, và một người chỉ cầm tập thơ ấy trên tay là Hoàng Hưng, vào tù.

Trần Mạnh Hảo: Nhưng bây giờ thì cái thể chế ấy lại tặng Giải thưởng Nhà nước (2007) cho người làm ra tập thơ ấy.

Nguyễn Trọng Tạo: Đúng là tặng giải thưởng. Tặng thưởng cho người đã vào tù, chứ không phải sửa sai. Họ không sửa sai. Tức là họ nói: chúng tôi không sai. Nhưng chúng tôi tặng giải thưởng.

Như thế là một nhà nước không đủ can đảm để nói lên một sự thật. Không sòng phẳng…

Trần Mạnh Hảo: Không tử tế.

Nguyễn Trọng Tạo: Một nhà nước không tử tế. Và tôi nhắc lại một lần nữa ý của tôi rằng tập thơ Về Kinh Bắc là tập thơ trụ cột của Hoàng Cầm. Nhưng trong phần tác phẩm giải thưởng họ không nhắc đến tác phẩm này. Về Kinh Bắc không được trao giải thưởng.

Tôi muốn nói đến cách ứng xử của nhà nước đối với văn nghệ sĩ và đối với tác phẩm của họ. Tại sao Lý Bạch được vời vào cung vua rồi lại phải bỏ đi… đày. Pushkin cũng vào cung điện của Nga Hoàng rồi lại cũng bỏ đi. Tôi muốn nói là thể chế nào cũng tìm cách biến nhà thơ thành…

Trần Mạnh Hảo: Thành nô bộc.

Nguyễn Trọng Tạo: Nhà thơ nào muốn có tự do thì đều phải bỏ đi. Nếu anh không muốn trở thành một thứ nô bộc, thì anh phải bỏ đi. Tại sao bỏ đi? Ai cũng trả lời được, chỉ vua là không!

Trần Mạnh Hảo: Đúng rồi, Nguyễn Trọng Tạo hôm nay nói rất hay.

Nguyễn Trọng Tạo: (Cười: không phải hôm nay mới hay!). Phải ra khỏi cung vua thì mới có thơ hay. Ở nơi nào nhà thơ mở được cánh cửa tự do của mình, thì thơ họ mới có thể hay.

Từ trái sang phải: Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê

Từ trái sang phải: Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê

Bây giờ nói về cái gọi là văn chương phản kháng. Tôi cho rằng phản kháng chính là tính chất căn bản của nhà thơ, chống lại những bất công của cuộc đời. Nhà thơ là những người có tính nhạy cảm rất cao. Trên cơ sở của sự nhạy cảm mà mầm mống phản kháng mọc lên rất nhanh.

Nếu cụ thể hơn thì đó là sự chống đối, nhẹ hơn thì gọi là phản ứng. Phản kháng có mặt khắp nơi.

Trần Mạnh Hảo: Phản kháng có tính liên tục.

Nguyễn Trọng Tạo: Trước một cái đẹp mới, anh cảm thấy bị hấp dẫn và cố thoát khỏi sự ràng buộc của cái đẹp cũ. Thậm chí anh thấy buồn vì cái đẹp mới vừa xuất hiện, bởi anh biết trước là rồi nó sẽ cũ đi, nó rữa nát. Buồn như thế đã là phản kháng.

Nhưng thơ và văn chương phản kháng cũng có thể mang tính chính trị, và như thế quả nhiên có một loại thơ phản kháng. Một dòng thơ phản kháng. Nó là một dòng. Hai mươi sáu năm trước tôi viết bài thơ “Tản mạn thời tôi sống”, người ta cũng cho rằng đó là một bài thơ phản kháng.

Tản mạn thời tôi sống

1.
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
Như thời đã đi qua như thời rồi sẽ đến

Nhưng cái thời tôi sống
hẳn khác xưa
Trong bài hát thêm bom rơi và súng
Anh yêu em – anh phải đi ra trận
Vợ yêu chồng – biết chờ đợi nuôi con
Đất yêu người – đất nhận làm lá chắn
Hai mươi năm không nguôi lửa chiến trường

Hai mươi năm không ngày nào vắng người chết đạn
Khăn tang bay người sống trắng mái đầu
Đâu cũng gặp những nghĩa trang liệt sĩ
Chiến tranh chấm dứt rồi mà nào dễ tin đâu

2.
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
Nhưng màu hoa thời tôi thì có khác
Xe đến công trường bay mù bụi cát
Mùa hoa thường lấm bụi suốt mùa khô.

Lúa ngậm đòng lụt bãi đến xô bồ
Nhà đang dựng thiếu xi măng, thiếu gạch
Bao đám cưới chưa có phòng hạnh phúc
Mây ngổn ngang lam lũ những dáng người.

Anh nhớ em nhớ về phía cuối trời
Nơi đất mới khai hoang chân em dầm trong đất
Em nhớ anh nhớ về nơi bóng giặc
Cứ rập rình nơi cột mốc đêm đêm.

Gió thầm thào như chẳng thể ngồi yên
Gạo thịt cửa hàng nhiều khi không đủ bán
Con phe sục khắp ga tàu bến cảng
Giá chợ đen ngoảnh mặt với đồng lương.

Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thật không dễ dàng chi!…

3.
Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa
Chỉ vết thương rồi thời gian làm sẹo
Vầng trăng mọc vào thơ mỗi ngày dường đổi mới
Người lo toan vầng trăng chẳng yên tròn.

Thời đã qua sẽ chẳng khỏi ngạc nhiên
Nếu trở lại bây giờ vẫn quần nâu dạo phố
Thời tôi sống cả đến bầy em nhỏ
Diện quần bò nhảy theo điệu nhạc vui.

Đài thêm nhiều những bài hát yêu nhau
Những điệu múa ba-lê hồng hào thêm sân khấu
Cái mới đến ngỡ ngàng rồi nhập cuộc
Báo bớt trang, báo thêm chút thơ tình.

Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng
Ai giả dối rồi biết mình lầm lỗi
Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
Câu trả lời thật không dễ dàng chi.

4.
Khi đang đắm yêu có tin được bao giờ
Rồi một ngày người yêu ta đổi dạ
Rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ
Bạn bè thân thọc súng ở bên sườn.

Sau cái bắt tay xòe một lưỡi dao găm
Kẻ tình nguyện giữ nhà muốn chiếm nhà ta ở
Tấm ảnh Mao treo lẫn màu cờ đỏ
Tay ta treo đâu nghĩ có một lần!…

Như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng
Nhận ra Chúa chỉ ghép bằng đất đá
Thời tôi sống thêm một lần súng nổ
Trái tim đau đang rỏ máu dọc biên thuỳ !

5.
Rồi thời gian qua đi rồi tuổi trẻ qua đi
Ai sau tôi ở vào thời sắp đến
Thời không còn khổ đau thời không còn nghèo túng
Đọc thơ tôi xin bạn chớ chau mày.

Bạn hãy quên vất vả những tháng ngày
Bao lo lắng đời thường từng làm tuổi xanh bạc tóc
Chỉ Hi vọng và Niềm tin giúp ta thêm sức lực
Câu thơ này xin bạn nhớ giùm cho:

Những bông hoa vẫn cứ nở đúng mùa!…

(Hà Nội, tháng 6. 1981)

Bài thơ của tôi không phải là một bài thơ chính trị, nhưng tôi nói những điều đó bằng linh cảm dự báo của một nhà thơ đối với các thay đổi của xã hội Việt Nam. Lúc ấy tôi đã nói ra được một Sự thật đau đớn, và xã hội Việt Nam phải thay đổi. Tôi tin rằng đó là quy luật.

Nhưng khi họ kiểm điểm tôi, thì họ bảo: Ông nói Chúa như thế là ông nói Đảng. Họ đem tôi ra kiểm điểm.

Tôi có ý định tự tử.

Nguyễn Đức Tùng: Thưa anh, đó là vào năm nào?

Nguyễn Trọng Tạo: Năm 1981. Trong khu tập thể của các nhà văn quân đội, tôi và nhà thơ Nguyễn Hoa ở cạnh nhau, chung vách có cửa thông qua. Vì là sĩ quan, tôi và Nguyễn Hoa đều có súng ngắn, mỗi khẩu súng mười viên đạn. Lúc đó Nguyễn Hoa về quê. Tôi lục tủ lấy khẩu súng của anh ấy, thêm vào khẩu của tôi là hai.

Tôi suy nghĩ nếu chỉ dùng khẩu súng của mình thì có thể không chết mà chỉ bị thương. Mà bị thương thì mệt quá. Tôi không sợ chết nhưng sợ bị thương. Chết thì không còn biết đau đớn là gì, còn bị thương thì đau. Tôi lắp đạn vào cả hai khẩu súng, trải khăn trắng lên gối, nằm dài trên chiếc giường cá nhân. Tôi nằm ngửa, kê hai khẩu súng vào hai bên thái dương.

Tôi nghĩ mình làm thơ là để nói lên những cảm nghĩ trung thực của mình. Thế mà họ lại đàn áp một nhà thơ trung thực, mà lại là nhà thơ bộ đội, thì thà chết mẹ nó đi còn hay hơn. Cái chết của mình cũng là một lời cảnh tỉnh đối với người làm văn nghệ, người lãnh đạo văn nghệ.

Tôi nằm nhìn trần nhà rất lâu, rồi lại nghĩ: sao lại vô lý thế này.

Tôi bỏ ý định tự tử và ngồi dậy viết một mạch những ý thơ vừa xuất hiện trong đầu. Sau này đặt tên là “Mười bài thơ và một lời ước muốn”. Tôi phải sống để tôi còn làm thơ như thế nữa. Vì trong xã hội, xấu đẹp gì thì nhà thơ cũng phải nói lên sự thật. Nếu mình không nói sự thật thì ai nói giúp mình?

Nhà thơ phải nói lên sự thật, không chỉ là sự thật tâm trạng của anh, mà còn cả sự thật ở bên ngoài anh. Anh có thấy không, anh có nghe không, anh có ngửi thấy không? Tất nhiên là sự thật phải được nói bằng ngôn ngữ nghệ thuật. Ngay cả phim ảnh mà nếu làm giống hệt sự thật thì cũng là kém, huống gì thơ. Nghệ thuật là sự thật ở bên trên sự thật. Tại sao điện ảnh Việt Nam lại kém? Là bởi vì nó dùng một thứ ngôn ngữ của sự thật tầm thường, trong khi nghệ thuật lại là một sự thật cao hơn. Vì vậy mà nghệ thuật phim ảnh hiện nay ở Việt Nam, mới mở mắt ra đã thấy nó giả rồi.

Trần Mạnh Hảo: Nó giả vì nó không phản ảnh sự thật của đời sống hiện nay.

Nguyễn Trọng Tạo: Như vậy điều quan trọng là nhà thơ phải nói ra sự thật. Nói ra được sự thật là nhà thơ đã tìm được tự do. Tôi nghĩ, tự do đối với văn nghệ sĩ chẳng ở đâu xa. Tự do chính là lúc anh ta nói ra được sự thật.

Trần Mạnh Hảo (đùa): Hôm nay ăn phải thứ gì Nguyễn Trọng Tạo nói hay quá.

Nguyễn Trọng Tạo: (Hảo khen xưa rồi). Bây giờ chúng ta trở lại với câu hỏi của anh Nguyễn Đức Tùng, đó là thơ dành cho đám đông quần chúng hay là dành cho một thiểu số người đọc. Tôi cho rằng ý kiến của anh Thanh Thảo và anh Nguyễn Thuỵ Kha cho rằng thơ không dành cho đám đông có thể là ý kiến cực đoan: anh đánh giá quá cao vai trò của thơ ca. Quá cao. Thơ ca thực sự không đến mức phải như thế. Hay là để cho nó quá chịu thiệt thòi như thế.

Thơ ca không người đọc tức là không có thơ ca. Thơ không người đọc và không có người nghe thì là thứ thơ gì?

Vừa rồi tôi thấy thơ trình diễn xuất hiện ở Việt Nam. Những anh em trẻ thì bao giờ cũng muốn làm mới. Hiện nay họ tương đối có tự do. Có tự do nhưng không có người đọc người nghe thì cũng chả để làm gì. Họ cố đi ra ngoài cái chính thống. Nhưng về nghệ thuật cái chính thống cũng có cái hay của nó, nó là cái khuôn, nghĩa là lọt vào thì nó cho qua, không lọt vào khuôn thì không qua được. Còn anh ra khỏi cái chính thống, thì anh chẳng có tiêu chuẩn nào cả. Ai nói trời nói đất gì cũng được. Và anh sẽ tạo ra cái khuôn mới.

Ai cũng biết tôi được mệnh danh là người ủng hộ mạnh mẽ các nhà thơ trẻ. Hôm nay có mặt ở đây, các anh Nguyễn Thuỵ Kha, Trần Mạnh Hảo, Thanh Thảo đều là những người ủng hộ thơ trẻ, nhưng tại sao người ta hay nhắc đến tôi. Là vì tôi ủng hộ những trường hợp cá biệt và thậm chí dị biệt. Như Văn Cầm Hải, Vi Thuỳ Linh, NguyễnThế Hoàng Linh, Nguyễn Hữu Hồng Minh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Nguyễn Vĩnh Tiến… mỗi người có những nét riêng. Nhưng làm mới đến mức phi nghệ thuật, cái kiểu thơ trình diễn kiểu cạo trọc đầu, bôi mặt đỏ mặt đen, đi qua đi lại, tắt ánh sáng, tuột áo quần ra, ngồi xuống cái bịch… mà gọi là thơ, thì đó là sự lố bịch.

Tôi đã từng giới thiệu thơ hình khối, thơ mẫu tự, thơ cụ thể, thơ câm. Nhưng cái gì cũng có những biên giới của nó, có “an nhữ chi” (chữ của Nguyễn Trãi) của nó.

Có nhà thơ vẽ một cây đàn trên trang giấy, ngoạch ngoạc mấy vệt, như thế có phải là thơ không. Nếu là một bức tranh, mà là tranh đẹp, thì nó là tranh. Vẽ những hình xấu xí mà gọi là thơ thì đấy là sỉ nhục thơ. Lại có nhà thơ để tất cả các trang giấy không, tức là không có gì cả, hay trang thì màu xanh, trang thì màu trắng, trang thì màu cái… đồ lót của đàn bà rong kinh.

Tất nhiên khi anh làm thơ thì không nhất thiết là làm cho mọi người, hay làm cho ai hết. Anh chỉ làm cho anh thôi cũng được. Nhưng khi người ta nói tôi làm thơ không cho mọi người mà chỉ cho tôi thôi, thì đó chỉ là một cách nói. Nhưng nếu nói như thế một cách nghiêm túc thì đó là sự cao ngạo.

Nếu thơ tôi được nhiều người đọc, được cả đám đông đọc thì tôi rất thích. Còn nếu thơ anh dở thì không có ai đọc cả, tôi không đọc anh mà chính anh cũng chẳng đọc anh. Thế thì có phải là thơ không?

Trần Mạnh Hảo: Đúng như thế.

Nguyễn Trọng Tạo: Làm thơ là tự giải toả mình bằng kinh nghiệm của một cá thể trong một thế giới.

Trần Mạnh Hảo: Maiakovski là một nhà thơ lớn của nước Nga Xô-viết, là bậc thầy của nhiều nhà thơ Việt Nam, là người đã tự bắn súng vào đầu mình để tự tử dưới chế độ Xô-viết. Dĩ nhiên Lenin rất cần đến ông ta, thế mà khi có người hỏi Lenin rằng ông ấy có thích thơ của Maia không. Lenin trả lời không. “Tôi không thích thơ của Maia, nhưng nó là cái loa của giai cấp vô sản Nga, phải để cho nó nói”. Mặc dù là người nổi tiếng như thế, Maia lại nói thơ không phải là nghệ thuật của quảng trường. Ông ta là người đã tự bắn vào đầu, kiểu như của Nguyễn Trọng Tạo đấy.

Nguyễn Trọng Tạo: Nhưng rốt cuộc, tôi lại không làm như ông ta.

(…………………)

2007

(Trích cuộc trò chuyện MỪNG VUI CÒN CÓ HÔM NAY của Nguyễn Thuỵ Kha, Nguyễn Trọng Tạo, Thanh Thảo, Nguyễn Đức Tùng, Du Tử Lê, Trần Mạnh Hảo do Nguyễn Đức Tùng thực hiện – đã in trong cuốn “THƠ ĐẾN TỪ ĐÂU”, Nxb Lao Động)

About these ads

7 phản hồi

  1. Bác Tạo ơi.
    “Lúa ngậm đòng lụt bão đến xô bồ” chư bác nhỉ.
    Bài này tôi thuộc từ những năm học Đại học bằng bản chép tay mà giờ vẫn nhớ. Ác liệt thật.

    ________

    @ bạn Vũ Văn Tài.
    Xin lỗi bạn, Phụ Tá đã sửa lại “lỗi đánh máy”.
    Cám ơn.

    PHỤ TÁ

  2. Nước Pháp đã tạo ra kỳ tích lịch sử bằng cuộc CM Pháp 1789, với niềm hy vọng về tự do và dân chủ của con người mà JJ Rousseau và Voltaire đã mơ ước. Nhưng ngay sau CM lại có thế lực phản CM muốn thâu tóm quyền lực và tìm cách tiêu diệt các lực lượng đối kháng để chiếm độc quyền (những người Jacobin chẳng hạn). Sau đó ông Tocqueville liền lên tiếng, vì bố mẹ ông ấy thuộc giới quý tộc cũng suýt bị CM đưa lên máy chém. Ông ấy lo sợ CM sẽ lại độc quyền tự do CM và tự cho mình quyền tự do muốn làm gì thì làm, vượt qua cả luật pháp. Ông ấy bảo không thể có tự do cho một người, một nhóm người mà phải có tự do rộng khắp dựa trên một ý chí chung, một sự thoả thuận xã hội. Tự do của người này không được làm tổn thương đến tự do của người khác nên nói đến chữ tự do thì dễ nhưng thực thi thì …khó quá ạ.

  3. Doc lai bai cu, thay boi hoi.
    Anh Tao hom ay noi hay qua. Cac anh khac noi cung rat sau sac, chan tinh.
    Moi do ma da sau nam roi. Thoi gian troi nhanh that.
    Rat nho cac anh, chi Dieu Tien va ban be da gap go nhau suot hai ngay lien, vui qua.
    Than,
    Nguyen Duc Tung
    (xin loi may dang dung khong co dau)

  4. Những suy nghĩ vô cùng sâu sắc, can đảm và quyết liệt. Đó cũng là Nhân cách và đẳng cấp của nhà thơ. Cám ơn nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo và các nhà thơ cùng thế hệ của ông.

  5. Tự do & Thơ ca

    Tất cả mọi người đều muốn tự do
    Nhà thơ cần có tự do hơn cả.
    Không có tự do, thơ thành dối trá
    Không có thơ, tự do hóa hò vè.

  6. Hình như bài này còn thiếu mấy câu:
    …..Giá chợ đen ngoảnh mặt với tiền lương

    Có bao người ước cuộc sống bình thường
    Như cái buổi xa xưa mình đã có
    thủa miếng ăn không phải bàn đến nữa
    thủa chiến tranh chưa chạm ngõ nhà mình
    Có bao người bạc bẽo với quê hương
    Dìm số mệnh mong manh vào biển tối

    Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi
    Câu trả lời đâu đã dễ dàng chi
    Có phải không bác Tạo?

  7. Ngày xưa ngồi trong nhà tù thực dân ông XUÂN THỦY cũng đã nghĩ
    như các nhà thơ vừa đàm luận :
    “Đế quốc tù ta ta chẳng tù
    Ta còn bộ óc ta không lo
    Giam người ,khóa cả chân tay lại
    Chẳng thể ngăn ta nghĩ tự do ”
    Có điều oái ăm là hình như những bài thơ dạng này tồn tại trong chế độ VNDCCH chỉ như là một hình thức trang trí cho cá nhân thi sỹ mà thôi,nó khuấy động trong tâm thức một lớp người có học, chứ không trở thành một lực lượng của sức mạnh vật chất được

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

Theo dõi

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 4 298 other followers