(HOÀNG NGỌC HIẾN)
Có thể “Thế giới không còn trăng”, nhưng đâu đó có một “Vì sao lạc”. Ở tận trời Tây, nữ sĩ Thụy Khuê viết về Nguyễn Trọng Tạo quá thú vị: “Anh làm mới thơ, đôi khi bằng nhịp điệu khác thường trong thơ lục bát, bằng một từ đột xuất, một đảo ngữ chênh vênh, hay một hư từ đặt không đúng chỗ, hoặc bằng một hình ảnh không giống ai: ta như sao lạc giữa ban ngày. Những câu thơ hay như thế bất chợt đến, bất chợt gặp trong thơ anh rất nhiều…Chúng ta may mắn nhặt được những Vì Sao Lạc ấy, và thấy sáng lại lòng mình...”. Nhận xét thú vị này làm tôi thấu hiểu anh hơn.
Mười năm trước, trong chuyến thăm Thành Nhà Hồ, tôi có dịp trở lại làng Quần Tín – làng nổi danh một thời với các làng Yên Lộ, Cổ Bôn, Hậu Hiền… tỉnh Thanh Hóa. Ngược thời gian 50 năm nữa – hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp, thì đây là nơi hội ngộ của giới trí thức văn nghệ sĩ từ Hà Nội và các tỉnh khác về. Trong đó có nhiều người nổi tiếng như Đặng Thai Mai, Đào Duy Anh, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Tuân, Nguyễn Xuân Khoát, Nguyễn Xuân Sanh, Đồ Phồn, Phạm Văn Đôn, Nguyễn Thị Kim, Bửu Tiến… Có người có vẻ như “ở phía trung gian” như Nguyễn Đức Quỳnh [1]. Và những vị khách thường lui tới như cụ Hồ Tùng Mậu, Tướng Nguyễn Sơn, Hải Triều, Hoàng Minh Thảo, Phạm Duy, Xuân Diệu… Ba lớp huấn luyện Văn nghệ, một lớp Dự bị Đại học được mở với hàng trăm học viên. Bên cạnh là trường Trung học Lam Sơn của tỉnh. Từ đây, nhiều người trở thánh văn nghệ sĩ như Hoàng Trung Thông, Xuân Hoàng, Trần Hữu Thung, Hoàng Mnh Châu, Vũ Tú nam, Minh Đức, Vũ Giáng Hương… Trở thành giáo sư như Nguyễn Tài Cẩn, Đặng Thanh Lê, Trần Quốc Vượng…
Có lần tôi được nghe cô tôi [2] vui vẻ “phê phán nhẹ” thái độ phất phơ chính trị” của bác Nguyễn Đức Quỳnh: Tháng 9 1945 cả Hà Nội treo cờ mừng Đọc Lập thì bác Quỳnh lại bâng quơ: “Hôm nay là cái ngày gì ấy nhỉ?”!… Còn chị Minh Đức sớm tài sắc một thời, 17 tuổi đã có thơ hay, sau này chị là nữ sĩ Minh Đức Hoài Trinh [3] nổi tiếng ở hải ngoại. Hồi đó ngoài Bắc chuyển vào Thanh Nghệ nhiều vải dù chiến lợi phẩm, chị Minh Đức khâu một cái túi đựng, và ghi nhật ký: “Ta sẽ bỏ cả nhân loại vào đây, rồi thắt lại…”! Gia đình hai bác Vũ Ngọc Phan – Hằng Phương đào ao lấy nước làm xưởng giấy thủ công. Bác Trương Tửu chép thơ vào vở cho con trai nhỏ học “Bài ca vỡ đất”… Tướng Nguyễn Sơn rất thích “Lôi Vũ”, cộng tác với bác Đặng Thai Mai dịch dở dang vở kịch “Người Nga-La-Tư” của văn học Xô-viết… Các bài thơ Tây tiến, Màu tím hoa sim được nhiều người đua nhau chép tay trong thời gian này… Một xã hội nhỏ tản cư thời chiến, nơi đồng bào địa phương rất tốt, hàng ngày có quá nhiều sự việc diễn ra….
Sau khi thăm Thành Nhà Hồ, buổi tối tại nhà khách Mặt trận Tổ quốc tỉnh, gặp gỡ một số bạn văn Thanh Hóa, chúng tôi vui vẻ ôn lại thời học sinh Trung học Lam Sơn. Câu chuyện thơ văn dẫn dắt đến một số nhân vật hậu sinh tên tuổi, trong đó có Nguyễn Trọng Tạo và các nhà thơ thân thiết của anh: Nguyễn Hoa, Thanh Thảo, Nguyễn Thụy Kha, Nguyễn Đỗ, Ngô Minh, Lê Huy Quang… Nhiều năm qua, một hình ảnh lặng lẽ ám ảnh tuổi thơ tôi mãi tới giờ, xem ra tôi lại nhớ rõ hơn cả: Một chiều trên đê sông Chu dọc làng Yên Lộ có hồ sen, lèn đá; trong gió mưa dữ dội trùm lên con sông hiền lành này, bóng dáng một cậu bé kiên cường chống đỡ, áo mũ cậu tả tơi, cả người ướt cóng, bị dạt sang bên trái, bị xô sang bên phải, bị đẩy lùi, lại bước lên, và cậu không hề bị quật ngã trên một đoạn đê dài… Gần 60 năm sau, đọc thơ Nguyễn Trọng Tạo, tôi nghĩ ngay tới hình ảnh cậu bé này, dù sông Bùng đâu phải là sông Chu! Cũng không hẳn vì câu thơ của anh khi tuổi đời đã cao: “Ta tỉnh đền đài ngả nghiêng say”. Mà vì một lẽ – có thể là tưởng tượng mơ hồ – nhưng không phải vô nghĩa khi khái niệm ảo đã là hiển nhiên: Từ hai phía Nguyễn Trọng Tạo vừa ngưỡng mộ, vừa có phần nào là hiện thân của những con người khả kính nổi tiếng ở không gian Văn hóa Kháng chiến cuối những năm 40 đầu những năm 50 thế kỷ trước – chính khoảng thời gian mà Nguyễn Trọng Tạo đã chào đời.
Nhà thơ Vũ Cao viết: “Ta thấy thơ anh không nhằm phục vụ một nhiệm vụ hoặc cổ vũ một trào lưu gì. Anh như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp ồn ào qua lại… Thật khó có thể xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào. Ngòi bút anh thoải mái với những điều không phải dễ nói ra…”. Có thể hiểu Nguyễn Trọng Tạo là con người thanh thoát, kiên trì và đầy tự tin. Anh vừa đàng hoàng ngoài đời, vừa có thể vui chơi ở ẩn trong chính kiến cung đình. Thấp thoáng một Đông Phương Sóc nói lên những điều không ít người e ngại. Nói câu lẻ và có khi cả bài dài “Tản mạn thời tôi sống“.. Anh vui chơi cao sang: “Sông Hương hóa rượu ta đến uống/ Ta tỉnh đền đài ngẻ nghiêng say“. Sông Hương mỹ nhân làm Cố đô nghiêng nước nghiêng thành. Sông Hương rượu, sông Hương Thơ làm người thơ Nguyễn trọng Tạo tỉnh trong say, say trong tỉnh. Cũng như “Đồng dao cho người lớn“, anh “Tự vấn” (cho người khác) nhắc nhở những ai đã mất chỗ đứng trong lòng người: “ngày vung vãi đức tin/ đêm gặp mình đơn độc/ ranh khôn giữa muôn nghìn/ trở về thành thằng ngốc“, hoặc: “nghe nói từ xưa làm vua sướng lắm/ mà đôi khi ta cũng sợ làm vua“. Anh vui chơi yêu người, đau cho người: “có anh hề đã nói với tôi/ đời thằng hề buồn lắm anh ơi/ và tôi đã khóc“. Anh nhìn con người ở phía có nhiều cấp dạng: cãi vã nhau, chán chề nhau, lúc quá khôn, khi quá dại… Có khi lại đầy phẫn uất: “Tôi vốn tin Con Người hơn tin chó/ niềm tin như đá tảng trong mình/ nhưng đọc Đoạn Đầu Đài [4] niềm tin tôi tan vỡ/ người ác hơn chó sói chốn rừng xanh!“… Và lời cầu mong thiết tha là xin đừng ác ý, xin đừng cố chấp, sự dại khờ chưa chắc đã là khờ dại. Hãy bình tâm hy vọng: “ở đâu đó Người vẫn yêu Người lắm/ dẫu tình yêu có lúc chỉ âm thầm“…
Xót xa nóng lòng chưa làm nhúc nhích lẽ sống được gì nhiều, anh buồn bã: “Tin thì tin không tin thì thôi!“. Song, giải bày sự bất lực, lại thành lời nhắn nhủ sâu xa thầm kín: “Sao anh bỗng thèm chết đuối cùng trăng/ đừng ai vớt, đừng hoan hô đả đảo…“. Thơ anh không phải “không phục vụ một nhiệm vụ, một trào lưu gì”, mà cao hơn, phục vụ nhiệm vụ của mọi nhiệm vụ, mọi trào lưu cần phục vụ – đó là gây lòng tin yêu Con Người, bật đèn xanh đèn đỏ giúp họ sống bằng tâm hồn, bằng ngôn ngữ mơ hồ, tỉnh táo của Thơ.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường xếp anh vào bậc “Người Ham Chơi” thông thái, “mang nỗi cô đơn nguyên ủy của con người, rằng Người Ham Chơi chính là hiện thân của ý thức lưu lạc”. Người Ham Chơi không hề mất gốc: “ngác ngơ giữa phố/ một thằng nhà quê/ nhớ thương Mộ Tổ/ biết bao giờ về“. Nhìn lại những từ Thụy Khuê đã viết: “vì sao lạc”, “chênh vênh”, “nhịp điệu khác thường”, “hình ảnh không giống ai”… thì càng thấy trong sự ham chơi nẩy sinh bao nhiêu là câu hỏi vui buồn, bức xúc. Những câu hỏi bàng bạc khắp các trang viết nỗi lo, hy vọng… Anh đứng trên mọi nẻo đường, hòa trong mọi dòng người , có cái nhận cái nhìn chi li, rộng lớn, toàn cảnh và nghiêng nghiêng như dòng sông Hoàng Cầm. Nghiêng nghiêng trong vui chơi, ham chơi, gây ngạc nhiên bất ngờ, làm bật ra nhiều cảm xúc xã hội xót xa. Có khi người đọc hồi hộp thật đấy nhưng lại rất yên tâm, biết là không thể đổ ngã, vì thơ đã gắn chặt với người. Trình độ vui chơi bông đùa luôn nhìn người, nhìn đời chạm đáy, đầy suy nghĩ ngược xuôi. Hướng nội cũng là hướng ngoại cho ngòi bút mệt mỏi! Cuộc đời thơ, rượu, vui, buồn có bao nhiêu anh chia hết: “Tôi còn cái xác không hồn/ cái chai không rượu tôi còn vỏ chai“. Như người ta thường nói, tâm hồn con người ta toát ra từ tiếng cười, có tiếng cười kín đáo, cười ra nước mắt… Vui chơi bông đùa hoàn toàn xa lạ với những giọng điệu vờ vĩnh dạy đời, đạo đức giả; và chính đó là cách buồn, cách đi qua buồn, cách cảnh báo, cách thơ của anh.
Thụy Khuê viết tiếp: “Anh chàng ấy thỉnh thoảng tung ra một vì sao để soi rạng Cõi Đi…“. Những vì sao, những câu thơ đầy tự tin âm thầm xây dựng hoặc dữ dội công phá – cả hai cách đều đưa đến hiệu quả, an toàn, vì nó có tình. Trong tiếng tù và âm vang hoàng hôn núi rừng, thơ anh vút đi diệt thú rồi bình tĩnh vòng trở về trong tay người sử dụng như một vũ khí thân yêu. Đó là quỹ đạo con căng bô-me-răng – thứ vũ khí kỳ lạ của thổ dân châu Úc, thứ vũ khí mà ngày nay người ta đã biết học nó để làm ra đồ chơi đĩa bay hiện đại hấp dẫn. Còn anh thì kiên trì chuyển thể nó vào thi pháp, vào sức mạnh ngôn từ của thơ với đầy đủ ý thức trách nhiệm: “Nhưng tôi người cầm bút, than ôi/ không thể không tin gì mà viết!“…
Trở lại làng Quần Tín, làng có ruộng, đồi, khe suối, đình chùa, khoa bảng và nhiều mẹ chiến sĩ… Bây giờ con đường nhựa chạy qua, bê tông hóa xóa cảnh nên thơ ngày trước, ngày mà các nữ văn nhân thi sĩ tương lai như chị Đặng Thị Hạnh [5], chị Minh Đức ở tuổi thanh nữ hay hát những lời ca dễ mến có âm hưởng gần như Quan họ: “Lắng trầm tiếng chiều ngân, nhạc dặt dìu ái ân… Người ơi nhớ mãi cung đàn, năm tháng phai tàn, duyên kiếp không hề lỡ làng…” – Lại một sự mơ hồ liên quan nữa – Nguyễn Trọng Tạo nhất quán hoài nghi cho tin yêu, chao đảo trong vững vàng, có tiền có hậu mang hồn hướng thiện, nhân văn. Thơ anh bay trên tầng bình lưu.
Đầy ám ảnh…
Đại Lải, Xuân 2009
HPP
_________
[1] Tác giả: Thằng Phượng, Thằng Cu So, Thằng Kình…
[2] Bà Hồ Thị Toan, phu nhân Đặng Thai Mai.
[3] Tác giả: Thư sinh, Bài thơ cho ai, Trường hận ca…
[4] Tác phẩm của Tr. Aitmatop.
[5] Tác giả: Cô bé nhìn mưa.
Đăng trong: Chân dung, Viết về tôi | Thẻ: vì sao lạc




He He không hẹn mà gặp. Hôm nay được nhậu với bác vui quá. Lại được cái hân hạnh đưa xe bác về vị trí giám khảo tiếp tục chấm điểm.
Em ở sai gòn 20 năm mà không biết đường TRẦN QUÝ CÁP ở đâu(làm sao đưa bác về đây?). Hỏi 1080 chỉ có đường TRẦN QUÝ KHOÁCH ( đường này làm gì có chổ nào làm sân khấu nhỉ?). Lên xe rồi bác giở sổ Nam Tào hóa ra là đường TRẦN CAO VÂN. Ô đường này thì em quá rành. Kính bác đến tận cổng số 7 TCV. Bác suống xe, đứng trước cổng số 7 TCV rồi hỏi người bán hàng rong: Số bảy Trần Cao Vân đâu? Em lại thấy ân hận vì không xuống xe dắt tay bác vào hội trường. Vậy là chưa trọn tình trọn nghĩa với bác. Ân hận quá. Lần sau cho em sửa sai nhé. Bác hát “khúc hát sông quê” hay quá.
Vừa vào blog gặp ngay Thuận. Vui quá. Anh vào chậm 5′, nhưng cố gắng lắm mới khỏi ngủ gật suốt 150′ xem vở kịch Hợp đồng mãnh thú do Thành Lộc thủ vài chính (trai giả gái làm cave). Khán giả thì vỗ tay tán thưởng liên tục mà có lúc anh không hiểu tại sao họ vỗ tay?
Thế mới biết không phải ai cũng thưởng thức giống nhau.
Cám ơn Thuận nhiều. Cuộc gặp bất ngờ với Thuận làm anh rất vui. Một kỷ niệm đẹp về bạn bè trên blog.
Chúc Thuận an lành và hẹn gặp lại.
Vì sao lạc? Trả lời: Thế làm sao không lạc (đậu phộng). Không “đậu phộng” mới là lạ. Em chịu các bác!!!
He he, hồi trước bọn anh vẫn gọi nhạc sĩ Phan Lạc Hoa là “đậu phộng”.
Còn bây giờ đây chắc là “Vì sao đậu phộng” he he.